Trở thành tổ chức sáng tạo tri thức để phát triển trong thời đại tri thức

Featured

Theo I.Nonaka, tri thức trong công ty tồn tại dưới dạng: ẩn (tacit knowledge) và hiện (explicit knowledge). Nếu ví toàn bộ tri thức của tổ chức như  một tảng băng trôi, thì phần thể hiện dưới dạng nhìn thấy được (văn bản, media) chỉ như phần nổi của tảng băng chìm. Phần lớn tri thức ẩn tàng trong từng cá nhân dưới dạng kĩ năng, know-how, kinh nghiệm. Những chuyên gia (theo nghĩa rộng: tức là tinh thông lĩnh vực gì đó, chứ không chỉ qua đào tạo hay bằng cấp[1]) giàu trải nghiệm trong ngành có thể đưa ra những quyết định nhanh chóng chính xác và khả năng thực hành thành thục đáng ngạc nhiên. Làm sao để phát huy, lan tỏa các tri thức này để làm giàu thêm tri thức cho tổ chức là một vấn đề rất hệ trọng đối với tổ chức.

seci1

Tảng băng trôi Tri thức: ẩn và hiện

I.Nonaka, lý thuyết gia rất có ảnh hưởng của trường phái quản lí dựa trên tri thức (knowledge-based management) – người từng được xem như một Peter Drucker của thời đại kinh tế tri thức, đã nỗ lực trong nhiều năm để phát triển lí thuyết toàn diện về quản trị dựa vào tri thức. Khái niệm trung tâm của lí thuyết Nonaka có thể đến: Mô hình SECI về chuyển đổi và sáng tạo tri thức, Ba – trường phát sinh tri thức, mô thức lãnh đạo phronetic (phronetic leader) của một công ty sáng tạo tri thức (knowledge-creating company). Đưới đây là các mô tả sơ lược:

1. Vòng tròn xoắn ốc biến đổi tri thức SECI

SECI là viết tắt của Socialization, Externalization, Combination và Internalization. Đó là các bước tuần tự nối tiếp nhau trong một chu trình khép kín để biến đổi tri thức ẩn từ người này chuyển sang người khác (S), từ tri thức ẩn sang dạng hiện (E), từ tri thức hiện rời rạc sang tri thức hiện có chất lượng cao hơn(C), và chuyển đổi từ tri thức hiện vào trong mỗi cá nhân (I).

seci2

  • Socialization (Xã hội quá): qua giao tiếp xã hội hay chia sẻ kinh nghiệm, hoặc “cầm tay chỉ việc” dưới dạng học nghề (apprenticeship) mà kinh nghiệm được truyền giao trực tiếp từ cá nhân nọ sang cá nhân Các tương tác xã hội với sự thấu cảm (empathizing) sẽ thúc đẩy quá trình xã hội hóa các tri thức ẩn.
  • Externalization (phát lộ): các tri thức ẩn riêng được diễn giải, viết lại và tích lũy (articulate) thành các tri thức hiện thông qua các quá trình hội thoại (dialogue) và phản tư (reflection). Kết quả của quá trình phát lộ tri thức ẩn là các khái niệm, các bản mẫu (prototype) có thể thể hiện được dưới dạng văn bản, media, hoặc các mẫu sản phẩm. Quá trình phát lộ này diễn ra trong phạm vi nhóm đội.
  • Combination (Tổ hợp): bằng việc nối kết, tích hợp, hệ thống hóa các tri thức hiện, tổ chức tạo ra các tri thức mới với trình độ cao hơn. Kết quả của giai doạn này là các tri thức có hệ thống, các sản phẩm mới. Giai đoạn này diễn ra với vai trò của tổ chức, không ở mức độ nhóm hay cá nhân; cho nên đòi hỏi sự tham gia chính quy của tổ chức để hệ thống và khai thác và tổng hợp tri thức.
  • Internalization (Nội hóa tri thức): Các cá nhân tiếp thu tri thức từ tổ chức, từ nhóm hoặc từ môi trường để phát triển tri thức ẩn của riêng mình, từ đó phát huy trong các hoạt động hằng ngày. Quá trình này diễn ra theo cách thức learning-by-doing trong công việc (on-job-learning).

SECI là một vòng xoắn ốc liên tục đi lên. Sự tương tác giữa cá nhân với môi trường xung quanh theo trình tự SECI sẽ liên tục làm giàu tri thức của cá nhân và tổ chức.

2. Ba: nơi chuyển đổi tri thức

SECI là chu trình, còn Ba (tiếng Nhật: Basho; tiếng Việt: trường) là là không-thời gian chuyển đổi và sáng tạo tri thức. Để SECI vận hành được, tổ chức cần tạo ra các Ba phù hợp. Trong môi trường doanh nghiệp, Ba có thể tồn tại ở dạng: các cuộc họp, nhóm dự án, các cuộc gặp gỡ không chính quy, tổ chức chính thức, hay đơn giản là một cuộc hội thảo truyền hình.

Có thể hình dung một công ty như một tập hợp các Ba đa tầng có kết nối, cùng với các tổ chức khác tạo thành một hệ sinh thái (ecosystem) cho nền kinh tế tri thức.

seci3

Các đặc điểm của một Ba tốt:

  • Tự tổ chức với mục tiêu siêu việt (self-transending goal: không phải là các mục tiêu “thực dụng sát mặt đất” )
  • Trực tiếp chia sẻ cảm xúc, cảm giác (quan tâm, tình yêu, niềm tin và sự an toàn)
  • Chia sẻ mục tiêu và cam kết
  • Tự chủ (self-awareness) trong mối quan hệ với người khác
  • Có trung tâm (động) và biên giới (boundary)
  • Sự đa dạng về tri thức và các tương tác hiệu quả

Khác với cấu trúc (structure) tĩnh của một tổ chức, Ba là một thể năng động, có biến đổi (dù có biên động) không ngừng dựa trên sự tự tổ chức (self-organization) của các thành viên trong nó. Một cấu trúc muốn trở thành Ba thì cần xem đến các yếu tố liệt kê ở bên trên.

Khác với cộng đồng thực hành (CoP-community of practices) là cấu trúc gồm những thành viên thuộc về nó, các thành viên của Ba tương tác với Ba và với các thành viên khác trong Ba để tạo sinh tri thức. CoP là để học tập là chủ yếu, còn Ba là nơi để phát sinh tri thức là chủ yếu.

3. Tài sản tri thức (Knowledge assets)

Theo Nonaka, các tài sản tri thức được phân làm 4 loại: tồn tại dưới dạng tri thức kinh nghiệm , tri thức khái niệm, tri thức hệ thống và các tri thức thủ tục, tương ứng với  4 giai đoạn của SECI như bảng dưới đây:

Tài sản tri thức kinh nghiệm

Các tri thức ẩn chia sẻ được

  • Kĩ năng và ngón nghề cá nhân
  • Sự quan tâm, tình yêu, sự tin tưởng, an toàn
  • Sinh lực, đam mê, áp lực

Tài sản Tri thức khái niệm

Tri thức hiện được truyền qua hình ảnh, kí hiệu, ngôn ngữ

  • Khái niệm của sản phẩm
  • Thiết kế
  • Nhãn hiệu chính thức

Tài sản tri thức thủ tục

Tri thức ẩn dùng hàng ngày, trong hành động và trong thực tế

  • Bí quyết trong công việc
  • Thủ tục tổ chưc
  • Văn hóa tổ chức

Tài sản tri thức hệ thống

Tri thức hiện được lưu trữ và hệ thống hóa

  • Văn bản, đặc tả, tài liệu hướng dẫn
  • Cơ sở dữ liệu
  • Bằng phát minh và sở hữu trí tuệ

Do đó, vai trò của lãnh đạo tổ chức không chỉ là vận hành tốt công việc kinh doanh mà còn phải dẫn dắt quá trình tạo dụng tri thức (xem hình dưới):

seci4

Các lí thuyết cổ điển về quản trị tri thức truyền thống thường chỉ tập trung vào việc “lưu trữ” và khai thác thông tin (là các tri thức hiện), trong khi bỏ quên các tài sản vô giá khác như phân loại ở bảng trên. Quan điểm của lí thuyết mới về sự kiến tạo và sử dụng tri thức không phải đơn thuần lưu trữ các thông tin (như các phần mềm Knowledge Management System hiện tại đang làm) mà là quản lí cái quá trình biến đổi tri thức thông qua chu trình SECI và các Ba, trong đó tri thức là một tiến trình động, biến đổi liên tục. Cũng theo quan điểm mới, tri thức phải được kiến tạo chủ động từ bên trong, cùng với sự tương tác với các tri thức được đưa vào từ bên ngoài, chứ không phải là quá trình thu nhận thông tin một chiều (ví như việc đi nhập công nghệ hàng đầu thế giới về sản xuất, nhưng có thể người đi mua không thể nào lĩnh hội hết cái know-how để làm ra một cái tương tự).

4. Phonetic Leader

Một thành tố quyết định trong doanh nghiệp luôn là lãnh đạo. Kể cả những tổ chức có sự dân chủ để sáng kiến từ dưới lên thì vai trò lãnh đạo cũng rất quyết định. Trong các tổ chức sáng tạo tri thức (knowledge-creating company), người lãnh đạo là một Wise Leader[2], cần sở hữu phronenis (practical wisdom: minh triết thực hành) – tức khả năng nhạy cảm đánh giá sự việc, nắm bắt bản chất của sự việc và có hành động mạnh mẽ để giải quyết vấn đề. Các thành tố cốt lõi của phronesis gồm:

  • Khả năng đánh giá cái đúng
  • Khả năng tạo ra Ba
  • Khả năng cảm nhận và đánh giá bản chất của sự việc trong các tình huống
  • Khả năng diễn đạt bản chất của vấn đề
  • Khả năng hiện thực hóa các khái niệm
  • Khả năng thúc đẩy phronesis ở người khác.

Có thể mô tả người lãnh đạo phronetic như là một thực thể Intellectual Muscle, vừa là một người có tư duy sâu sắc, lại vừa là một người hành động hăng say không ngừng hướng thượng tới chân thiện mĩ. Người lãnh đạo đó dẫn dắt tổ chức không chỉ bằng các kĩ năng chuyên môn hay bài học quản lí mà còn bằng những giá trị nhân văn sâu sắc.

Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, quản lí cấp trung chính là động lực quan trọng của sáng tạo trong tổ chức. Thực tế cho thấy những lãnh đạo cấp cao có thể luôn là những người đầy nhiệt huyết và tầm nhìn xa trông rộng, hoặc nhân viên cấp thấp luôn muốn phá bỏ rào cản để phát triển,  nhưng sự nghiệp đổi mới lại tắc ở giữa, nơi những nhà quản lí thực sự đóng vai trò chủ đạo trong hiện thực hóa các tầm nhìn, động viên và tổ chức thực thi các chiến lược của tổ chức.

CÂU HỎI SUY NGẪM:

  • Công ty bạn đang để phí phạm những loại tài sản tri thức nào?
  • Bạn có thấy Innovation và ý tưởng luôn tắc ở các cấp trung không? Công ty có vượt qua được không? Bằng cách nào?
  • Công ty của bạn có dùng một Knowledge Management System nào không? Tác dụng của nó đến đâu? Bạn có liệt kê được 10 điểm bất cập của các lí thuyết quản trị tri thức theo lối quản trị thông tin dựa trên KMS không?
  • Là một quản lí/lãnh đạo, bạn nghĩ sao về ý tưởng Wise Leader? Liệu nó có quá khó?
  • Những lợi ích lớn nhất mà mô hình SECI có thể mang lại cho tổ chức là gì?

GHI CHÚ VÀ THAM KHẢO:

[1] Cách hiểu này tham chiếu mô hình năng lực của Dreyfus: kĩ năng tiến bộ theo mức Novice>Begginer> Competence>Proficient>Expert. Lộ trình này có thể mất 10.000 giờ thực hành có chủ đích (deliberate practices) Xem thêm: Sơ bộ về các lý thuyết của Bloom, Dreyfus và Kolb – P2: Dreyfus

[2] Xem: The Big Idea: Wise Leader, HBR, 5-2011

[3] Ikujiro Nonaka, Ryoko Toyama, Turo Hirata, Quản trị dựa vào tri thức (2012).

[4] Nonaka, Ikujiro, Ryoko Toyama, and Noboru Konno. “SECI, ba and leadership: a unified model of dynamic knowledge creation.” Knowledge Management: Critical Perspectives on Business and Management 2 (2005): 317.

Chiều thu vàng

Featured

Đáp tàu bay xuống đất Nội Bài sau chuyến đi cấp tập vào sâu trong rừng su giữa Bình Dương, anh ngạc nhiên vì đã lâu lắm mình không đi máy lúc nửa buổi thế này. Sinh ra lúc gà gáy nên anh chỉ có duyên bay đi lúc mặt trời chưa mọc và bay về lúc trời đã tối om. Đường từ sân bay về Hà Nội vì thế chả có gì để ngắm. Chiều nay thì khác.
Ngoài kia một cặp đôi đang hối hả trở lại thủ đô sau chuyến về quê cuối tuần. Cô gái gà gật cố ôm thật chặt chàng trai phía trước. Bàn tay như thể lúc nào cũng trực bật ra và rơi thõng xuống. Chợt nhớ những ngày em cũng gà gật như thế  sau chiếc GN125 bà già của anh. Có dạo hình như mình phải dùng áo buộc lưng hai đứa lại, giống như chiếc đai chúng mình mua cho Sun vài năm trước. Hai mẹ con thật giống nhau ở cái nết ngồi xe: chỉ rình rình là ngủ gật.
Xen giữa dòng người vội vã trở lại thủ đô, có ông bố trẻ chừng như tất bật hơn cả trên chiếc AirBlade đỏ. Bận chiếc quần soóc, anh chở chiếc giỏ chứa cả đống đồ sơ sinh kẹp chặt trên đùi. Hình như ông bố trẻ đang phi vào viện. Chợt mỉm cười khi thoáng tưởng tượng mình ngồi trên chiếc xe ấy; và trong viện, bạn Moon đang oe oe đòi bú :)
Chân cầu Thăng Long, các chú áo vàng rất bận rộn với việc bắt lỗi người vi phạm. Sao hôm nay đông thế? Bốn năm anh làm liên chân liên mồm mà không hết việc. Kể cũng lạ, sao biết chỗ ấy nhiều công an mà các bác nhà ta cứ hồn nhiên không đội mũ, hồn nhiên đi nhầm. Sao lại để những cái hồn nhiên ấy nuôi dưỡng đàn đàn lớp lớp những kẻ đứng đường cơ hội?
Chiều lửng. Ánh mặt trời mùa thu chiếu góc 45 độ xiên  qua cửa kính xe nhuộm vàng mặt bác tài xế. Dưới cầu, cả dòng sông Hồng như được dát vàng lóng lánh. Anh cũng vàng, nhưng là một chiếc áo vàng cam sến sẩm – đồng phục của công ty, cắm headphone, nghe đi nghe lại giọng vàng như nghệ của Bob Dylan rên rỉ ỉ ôi. Cả đoạn đường, anh hầu như chỉ nghe mỗi một bài ưa thích:
“People are crazy and times are strange
I’m locked in tight, I’m out of range
I used to care, but things have changed …”

xao-xac-heo-may-thu-ha-noi-4

Như thường lệ, ảnh mượn ở trên mạng và ít liên quan đến nội dung bài viết :)

Hai vế của định nghĩa

Featured

Bác Tổng: Constructivism là gì?

Tấn:  là lí thuyết về việc học, hay là lí thuyết về cách học

Có nhiều lí thuyết về việc học không?

Có nhiều, behaviorism, construcitivsm, đủ các kiểu ism luôn.

Thế học tập qua trải nghiệm có phải là cách học không?

Có là cách học.

Nó có phải là constructivism không?

Có.

Thế vậy Constructivism là lí thuyết về cách học hay là cách học?

Nó là lí thuyết về cách học, còn có nhiều cách học cụ thể đi theo lí thuyết đó. Nó là instance của một thứ abstract.

Thế định nghĩa của constructivism là gì?

Định nghĩa của em là “học tập là sự tự kiến tạo tri thức thông qua sự trải nghiệm và tương tác giữa kinh nghiệm với các ý tưởng bên trong và bên ngoài của cá nhân”?

Có định nghĩa khác không?

Có rất nhiều.

Nó như thế nào? 

Em có thể tra Google, ra một đống. Nhưng em đang nói cái constructivism của em. Cái này cũng cần trải nghiệm.

Sao ông không nói trắng ra luôn?

Bạn bác Tổng: ông có slide định nghĩa không?

Không, em không chơi kiểu đó. Em đi tìm nghĩa, không trích định nghĩa.

OK, fine. 

Smart Instruction

Featured

Constructivist Instruction và Direct Instruction là hai mẫu hình (paradigm) tư duy giáo dục. Dĩ nhiên là DI ra đời trước, tồn tại hàng nghìn năm. CI ra đời sau không phải để phủ nhận, đập bỏ, mà là bổ khuyết cho phần DI đã tỏ ra yếu kém trong giải quyết các vấn đề giáo dục.

Trong chừng mực các phương pháp, kĩ thuật giảng dạy, CI cung cấp các công cụ mới để nâng cao chất lượng giảng dạy, “năng suất” học tập – những cái mà DI chưa có vì điều kiện khoa học giáo dục chưa cho phép.

Đứng riêng ở cả hai mẫu hình, đòi hỏi người làm giáo dục phải làm tới nơi tới chốn, không được nửa vời thì mới mong có được kết quả. Một người không có năng lực cao khi sử dụng công cụ thuộc CI không đảm bảo sẽ có hiệu quả tốt hơn việc sử dụng các công cụ “cổ truyền”. Câu chuyện giống như chuyện so sánh bắn súng và bắn cung: rõ là ở hai thế hệ kĩ thuật khác nhau, nhưng vẫn cứ phải là người bắn thạo thì mới trúng đích được.

Nhảy ra khỏi sự cuồng nhiệt đến mức rồ dại khi đề cao CI hoặc DI như là chân lí tuyệt đối, ta thấy truyền thống và tân thời có thể đứng cạnh nhau mà không triệt tiêu nhau. Thay vì cứ phải chọn lấy một, ta chọn cả hai thì sao? Khi ấy ta có Smart Instruction. Mọi học thuyết và kĩ thuật trong giáo dục, chẳng qua là công cụ để đi đến một mục tiêu nào đó. Không cứ nhất thiết phải cực đoan.

zo

Agile Mindset

Featured

Lục lọi một hồi, hóa ra cái mindset của agilist giản dị kinh người, quy giản về một chữ: học.

Tư tưởng nó đơn giải thế này:

  • Cá nhân phải học liên tục để có mastery trong chuyên môn của mình và khả năng thích nghi liên tục.
  • Nhóm phải học cách trở thành một team hiệu quả, có khả năng cải tiến liên tục và thích ứng trong hoàn cảnh mới.
  • Công ty phải học để tri thức không ngừng được sinh ra, phát huy hiệu quả và thích ứng trong mọi hòa cảnh mới.
  • Nền văn hóa Agile là nền văn hóa vun trồng (cultivation).

Làng nhàng

Một căn bệnh của thời đại này là đọc và xử lí thông tin giới hạn vài trăm kí tự. Lười nghĩ, lười tìm, dán mắt vào News Feed, gì cũng có. Người nào cũng trí tuệ ngời ngời, nhưng là trí tuệ giả tạo.

Thanh niên trẻ nhiều tay cũng gớm, mới hai chục mà đã chém như ông già. Nhiều tay trẻ mơ cũng gớm lắm, tát cạn biển Đông. Như thế cũng tốt. Mơ là tốt. Nhưng thấy ít kẻ xắn tay vào gây dựng và làm cho đến nơi đến chốn. Làm gặp khó là bỏ. Đoản chí kinh.

Có Google, lời giải lúc nào cũng sẵn. Thế là nghĩ chẳng cần tích lũy làm gì. Một hôm màn hình smartphone vỡ, chạm chả nổi, nó nhân dạng tiếng người ra tiếng mèo rên, chịu chết không tìm được thông tin gì.

Đất nước bắt đầu có của ăn của để, rơi vào bẫy thu nhập trung bình, giữ mãi trạng thái trung bình. Thông tin thừa mứa, thanh niên có nguy ngơ giữ mãi trạng thái làng nhàng.

Thanh niên đang tìm động lực ở đâu?

Cái khó của Project-Based Learning

Nhiều người biết là ProjectBased Learning hay nhưng hiện thực hóa thì khó. Mặc dù có nhiều sách hướng dẫn nhưng có lẽ chưa sách nào chạm vào được những chỗ khó vượt qua nhất.

Có thể kể ra vài cái :

1. Giáo viên ít người là những quản trị dự án giỏi, thậm chí không có năng lực quản trị dự án

Do không nắm vững dược các vấn đề cốt lõi của dự án, nên không thể vận dụng mô hình dự án vào trong học tập. Có lẽ đây là cái ít được để ý nhất: năng lực quản trị dự án cho giáo viên, và năng lực lái việc làm dự án phục vụ cho việc học. Phải đào tạo giáo viên trước, nhưng không phải là đào tạo áp dụng PBL, mà dạy lại cho GV project là gì, quản lí thế nào, rồi mới đến các vấn đề giáo dục của nó.

2. Thiếu môi trường phù hợp với dự án

Cái hay của dự án chính là sự phức tạp và chỉnh thể, thực (authentic) của các vấn đề. Những cái này đòi hỏi các setting thật, các điều kiện vật chất cũng như bài toán thật để giải quyết. Làm mãi phần mềm trên giấy thì còn gì là thú vị?

Bằng một cách nào đó (không nhất thiết tốn tiền), người giáo viên hoặc nhà trường phải tạo lập các settings này để đủ điều kiện vận hành cho các môn học theo PBL. Chuyện này cũng ít được để ý vì mất công, mất sức. Dù gì thì dễ nhất vẫn cứ để vác sách giảng thật hay hơn là nghĩ ra xây một phòng thí nghiệm, xưởng chế tạo.

3. Thiếu khả năng đánh giá phù hợp

PBL thể hiện các khía cạnh khác của quá trình học tập: khả năng thích ứng, giải quyết vấn đề, làm ra sản phẩm, tư duy trong thực tiễn … Thậm chí cả cái không khí và động lực của học sinh khi làm trong nhà xưởng cũng khác biệt so với trên lớp. Trong khi đánh giá cuối cùng lại thường nằm ở con số điểm tròn trĩnh, đặc biệt là những điểm chấm cho sự hoàn thiện của sản phẩm cuối. Bảng điểm có thể bóp chết tất cả những gì là hay ho của PBL. PBL là authentic learning, thì cũng cần một authentic assessment tương ứng. Tiếp cận tích hợp và chỉnh thể (holistic) thì đánh giá cũng phải chỉnh thể.

Làm gì có ai giỏi, làm đi mới biết

Một người mà mình gọi bằng Thầy, chưa từng đỗ đại học bao giờ lại được một GS TSKH lừng danh cùng ngành tôn đứng lên trên mình, và rất nhiều trí thức tầm cỡ khác gọi bằng đại ca. Ông luôn mồm bảo: “làm gì có ai giỏi, làm đi mới biết được”, “làm đi rồi học, làm mà học, học thì làm”. Cứ ra sản phẩm rồi thì biết giỏi cỡ nào. 

Ông sếp mình dạo trước cứ mỗi lần giao nhiệm vụ là bảo “thử thách tiếp theo nhé, chịu khó học là ngon thôi”, và cũng từng rất sốt ruột khi thấy mình không biết cách đếm tiền, mắng như té tát “chú mày chẳng chịu học gì cả”. Nghe mắng thế rất nhục.

Cả hai vị cao thủ đó đều chung một ý tưởng: coi sự học là gốc của phát triển và thước đo cá nhân. Mà cái học này không nằm ở chỗ anh đã “học bao nhiêu ở nhà trường, có bao nhiêu bằng cấp” mà qua thể hiện trong công việc cụ thể, qua sản phẩm làm ra. Một nhân viên có thể mắc sai lầm (vì dốt), cũng có thể lặp lại thêm sai lầm một lần nữa (nếu nó không đến nỗi gây “chết người”), nhưng nếu anh ta cứ mắc sai lầm theo cùng một kiểu vì không chịu học thì rất đáng trách. Không ai dốt bền mãi, chẳng ai khôn tự nhiên hết, phải học mà làm. 

Ảnh minh họa, không nhất thiết có liên quan tới nội dung. Lấy từ Internet.

Ảnh minh họa, không nhất thiết có liên quan tới nội dung. Lấy từ Internet.

Google đã nuốt chửng chúng ta như thế nào?

Tôi từng khá sốc khi phải chứng kiến một cuộc so găng giữa trí tuệ con người và một cỗ máy siêu quyền lực mang tên Google, mà phần thắng thì không thuộc về con người. Phương [1]– một cô giáo tiểu học thâm niên, là cán bộ nòng cốt của một trường tiểu học có tiếng ở Hà Nội đang nổi giận đùng đùng lên tông cao độ để đánh võ mồm với một cô giáo trẻ khác (cô Thanh, cũng phừng phừng mặt đỏ) về cách viết đúng chính tả từ lô-gích (logic). Sau khi dự giờ cô Thanh, cô Phương nhất quyết cách viết “lô-gích” của cô Thanh là không đúng, phải viết là “lô-gíc” hoặc “lô-ghích”. Còn cô Thanh thì cũng cãi lại quyết liệt: “từ này tiếng Anh là logic, tiếng Pháp là logique (đọc là lô-gích-cờ), phiên ra tiếng Việt thì ghi là logic cũng được, lô-gích cũng được, lô-gíc cũng được”. Cô Phương: “không thể như thế được, chính tả chỉ có một quy tắc thôi. Hồi trước ở trường sư phạm, giáo sư viết là lô-gíc”. Thế rồi để minh họa cho khẳng định của mình, cô rút iPhone hồng của mình ra rồi Google từ “lô-gíc”. Cô chốt: “đấy, trên mạng người ta dùng là lô-gíc chứ, có ai dùng lô-gích đâu?”. Cô Thanh thì không những không hạ nhiệt mà còn căng thẳng hơn, nhưng không thể lí luận thêm gì nữa vì thấy mình rơi vào trạng thái “bó tay”.

Tình huống trên cho thấy Google đang là vị giáo sư đáng kính hơn tất thảy. Nó không chỉ là công cụ tìm kiếm thông tin trên Internet, mà đã trở thành kẻ phán xét cái gì là đúng cái gì là sai.

Chúng ta đang thả mình để cho Google nuốt chửng, từng ngày từng ngày một.

Ngày nay khi Internet trở thành cái bể chứa tất tần tật tri thức của loài người, thì người ta không còn giữ thói quen phải khắc ghi kiến thức nữa, người ta chỉ cần lưu vài từ khóa, phần còn lại để Google lo. Con gái bạn nóng trong người? Hỏi Google cháu đang bệnh gì. Bạn cần tìm nhà mới để đổi gió? Hỏi Google ai bán giá bao nhiêu. Con trai bạn hỏi về lực hấp dẫn? Hỏi Google chỉ cho một hoạt cảnh, v.v. và v.v. Bạn phó mặc cho Google phần lớn những công việc “đầu óc” nặng nề mà xưa nay vẫn phải miễn cưỡng làm, giờ thì mọi thứ nhàn tênh.

Nhưng đấy là chúng ta mới nhắc đến có một Google, chính xác là cỗ máy tìm kiếm cùng tên. Còn có hàng tá những khuôn mặt Google khác đang bủa vây lấy cuộc sống của chúng ta: Chúng ta bắt đầu quen với việc giải trí bằng những video clip, xem các bài giảng hay hướng dẫn làm cái này cái nọ trên YouTube; chúng ta viết thư tâm sự với bạn gái hay trao đổi công việc bằng dịch vụ Gmail, lưu trữ ngày càng nhiều tài liệu quan trọng lên dịch vụ Drive, thực hiện các khảo sát xã hội học với Google Forms, viết nhật kí bằng dịch vụ Blogger của Google, quyết định chi cho Google cả nghìn đô la Mỹ để “mua một từ khóa” hòng chiến thắng trước đối thủ trong cuộc đua xếp hạng trong bảng kết quả tìm kiếm của Google, lưu trữ ảnh và khoe với bạn bè năm châu trên hệ thống Picasa của Google, gọi điện video và chat với đồng nghiệp ở bên kia đại dương với Hangout hay hỏi Google Maps đường đi ngắn nhất đến quán café Starbuck mới mở. Và, chúng ta có thể đã quen đến mức quên mất rằng tất cả những thứ đó đang hiện diện bên trong chiếc điện thoại thông minh chạy hệ điều hành Android do Google làm ra, cái vật liền thân đi theo chúng ta từ lúc mắt nhắm mắt mở buổi sáng sớm cho tới khi đẩy dòng status cuối cùng lên mạng xã hội trước khi đi ngủ. Chúng ta được Google chăm sóc đến tận chân tơ kẽ tóc.

Tuy vậy, đó vẫn chưa phải là toàn bộ những gì Google đang làm với thế giới này. Với tham vọng  “tổ chức lại toàn bộ thông tin và để mọi người truy cập dễ dàng” như Sứ mệnh của Google nói, nó sẽ còn tiếp tục hiện hiện ở bất cứ nơi nào có dấu hiệu về nhu cầu của con người, sẽ tiếp tục mở rộng quyền lực vốn đã trở thành một siêu quyền lực từ lâu.

Nhiều nhà nghiên cứu và triết gia đã mất công tìm hiểu, phát biểu và xuất bản sách về đề tài này. Tác giả Siva Vaidhyanathan gọi tên quá trình xâm lăng có độ phủ lớn chưa từng có trong lịch sử loài người này bằng thuật ngữ“Googlization of Everything” trong cuốn sách cùng tên: thế giới mạng đang Google-hóa, tri thức đang bị Google-hóa tri thức và trí nhớ của con người cũng đang bị Google-hóa. Nicolas Carr, sau khi dẫn hàng loạt những nghiên cứu của tâm lí học và thần kinh, đã mạnh mẽ cảnh báo Google đang khiến chúng ta “ngu dần đều”, ít nhất là chiểu theo các tiêu chuẩn truyền thống: trong đầu con người sẽ hầu như chỉ còn lại các mảnh vụn thông tin, các từ khóa thay vì những “kiến thức sâu sắc”.  Còn chúng ta, những “nạn nhân” của Google, có lẽ chỉ cần tĩnh tâm lại một chút là đã có thể cảm thấy Google đang khiến ngày càng nhiều người giống cô Phương ở đầu bài này – tin vào những “chân lí giả tạo” do Google dựng lên một cách vô tình; chúng ta có thể sẵn sàng phó mặc cho Google Maps dẫn đường qua những con đường cũ kĩ lầy lội chỉ vì nó chưa cập nhật con đường mới làm cách đó có vài trăm mét; chúng ta sẽ còn chứng kiến nhiều tin giật gân kiểu như “một thị trấn nhỏ ở châu Âu có tên là Eu đã phải đặt vấn đề đổi sang một tên khác vì khi tìm kiếm trên Google chỉ thấy xuất hiện một EU khác chứ không phải là chính họ”. Tất cả những điều đó đến với chúng ta một cách thật nhẹ nhàng và êm ái: các công cụ mà Google cung cấp đều thật “thiết yếu”, “rất cần cho cuộc sống”, và đặc biệt là chúng hầu như miễn phí.  Chúng ta đang thả mình để cho Google nuốt chửng, từng ngày từng ngày một.

Người ta nói “there is no free lunch” (“không bữa trưa nào miễn phí cả”); liệu cái giá của sự tiện lợi mà Google mang lại phải chăng chính là tự do của chính chúng ta?

Dương Trọng Tấn

(Đã đăng trên Đa Diện)

[1] Các tên riêng của nhân vật đã được đổi

Lợi thế của những kẻ “thế mà đần”

Mình rất thích các cuốn sách thuộc loại “…thế mà đần”, kiểu như “Java cho những kẻ … thế mà đần” (Java for dummies). Sau này lại biết thêm thể loại “Triết học cho trẻ con”, lại càng thích. Hóa ra là cái gì cũng dạy được theo cách rất giản dị, chứ chẳng cần phải lên gân lên cốt điền cho hàn lâm vào trang sách cho mệt. Hóa ra đần có cái hay của nó. Em đần em có quyền đòi hỏi sách dễ hiểu.

***

Trẻ con đần từ trong trứng nước. Nó chẳng biết gì cả, vậy nên nó học mọi thứ, nó vặn hỏi tất cả chẳng ngại gì. Nhưng thật đáng tiếc là càng lớn lên người ta càng làm mất đi cái đức tính quý hóa ấy. Người ta không được phép nói năng những câu ngu ngốc nữa, không được phép hỏi những câu ngớ ngẩn nữa. Buồn cười thật, chả có lí gì phải như thế cả. Cứ làm thằng đần, sướng hơn: tha hồ mà hỏi, tha hồ mà học.

***

Tôi xin tự nhận mình là một kẻ “thế mà đần”.