Đúng rồi, người lớn cần phải học lại

Featured

Dewey nói đại ý “giáo dục về cơ bản là giải phóng và mở rộng kinh nghiệm”.

Trẻ con như tờ giấy trắng nên việc giải phóng kinh nghiệm và mở rộng kinh nghiệm rất tự nhiên, nếu như người lớn và môi trường xã hội không đặt lên nó cái vòng kim cô đáng kể nào. Kiểu gì trẻ con cũng “chơi” được tuốt!

Người lớn thì lại khác, bị hằn sâu bởi kinh nghiệm nên nhiệm vụ “giải phóng” nó trở nên nặng nề hơn. Có vài người dạo này hay nói: “chỗ khó nhất của giáo dục là giáo dục lại người lớn”, là bởi nhìn ra  cái sức nặng khủng khiếp của kinh nghiệm trong mỗi một người lớn tuổi. Nếu không sở hữu một tư duy linh hoạt và cởi mở, kinh nghiệm của mỗi người như một tảng Ngũ Hành Sơn đè lên, thật khó khăn để giải phóng cho được.

Nhân bàn chuyện giáo dục với một vị đứng đầu đơn vị giáo dục, có nhà giáo dục đặt vấn đề: chúng ta phải giáo dục lại phụ huynh, tại sao không?

Đúng rồi, tại sao không?

Có một số phụ huynh khác đặt vấn đề với sách của Cánh Buồm: học xong quyển Văn 1 (Đồng cảm) thì con tôi được gì, làm được gì, có làm được bài văn hay hơn không, có được điểm cao hơn không? Các vị hỏi “dã man” quá, thử hỏi lại xem: các vị thực sự muốn gì ở con mình?

Thử xem một bức tranh rất bắt mắt sau đây do một cháu bé mầm non tạo thành với sự yểm trợ của người lớn: người lớn vẽ khung sườn, còn các bé chỉ cần chấm ngón tay vào màu và phết lên (có khi còn có sự gợi ý chấm chỗ nọ chỗ kia). Thử hỏi, học sinh học được gì qua trò chơi này? Và bức tranh đèm đẹp kia là cái mà phụ huynh muốn thấy được qua quá trình giáo dục con mình, hay là cái gì khác?

Một siêu phẩm của tuổi thơ

Một siêu phẩm của tuổi thơ

Câu hỏi cuối: người lớn có nên bớt đi sự sốt ruột, kiềm chế sự thực dụng sát mặt đất lại, và có nên .. đi học lại cùng con?

[BookReview] Một tháng là đủ để làm nên chuyện

Featured

Giới thiệu sách Software in 30 days

Lúc sách chưa ra lò, Ken Schwaber giới thiệu trên blog là sẽ có sách như thế như thế, tôi cứ hóng mãi. Nhưng lúc vồ được thì lại hơi khó chịu vì hai chuyện: (1) cái bìa xấu tệ; (2)mọi thứ về Scrum được đề cập trong sách lại tô hồng quá.

Nhưng khi đã cảnh giác xong xuôi đâu vào đấy rồi thì thấy cuốn sách của hai vị lão thành quả là đáng đọc, vì nó là một trong ít sách vở viết về Scrum trong thời gian gần đây có vẻ còn chịu khó đi tìm cái mới. Hai tác giả của nó dường như vẫn còn chịu khó cải tiến và tổng kết, chứ chưa đến nỗi “sập gụ tủ chè” với thành tích xa xưa.softwarein30days

Phần I của cuốn sách tập trung trả lời câu hỏi “Tại sao ai cũng có thể làm ra phần mềm trong 30 ngày?”. Dĩ nhiên là các tác giả muốn dẫn độc giả đến với đứa con cưng Scrum của họ, dẫn đến một mệnh đề mang đậm tư duy tích cực của Ken Schwaber mà ông có nhắc đi nhắc lại nhiều lần: ”Scrum là nghệ thuật của việc tận dụng các khả năng”. Dĩ nhiên là các số liệu, phân tích tình huống và bản thân các tình huống được lựa chọn rất “mạnh” trong việc định hướng người đọc đến với Scrum, từ các số liệu của CHAOS report đến tình huống nan giải ở FBI hồi “trước khi Scrum đến”. Phần II với 6 chương được dành ra để giúp người đọc mường tượng cách thức vận dụng Scrum vào công việc theo các mức độ khác nhau, từ “thử cho biết”, đến việc lập Scrum Studio cho nhiệm vụ phát triển sản phẩm, hay lan rộng áp dụng Scrum ở mức độ toàn tổ chức (enterprise). Các tác giả cũng không quên “đính kèm” hai tài liệu quan trọng: một là Scrum Guide để giúp bạn đọc tham chiếu lại các khái niệm cơ bản của Scrum framework; một là tài liệu hướng dẫn áp dụng Scrum cho công ty (Playbook for Achieving Enterprise Agility). Đối với một số bạn đọc, có khi cái Phụ lục 3 (Playbook) này lại là cái tài liệu hữu ích hơn cả, vì nó cung cấp những chỉ dẫn sát sườn cho việc áp dụng Scrum; trong khi các phần How-to ở Phần II của cuốn sách lại chỉ dừng mức mô tả.

Như phần trên đã phàn nàn, rằng các sách Scrum hiện nay phần lớn ít chịu tìm tòi những cái mới. Có lẽ những sách hay nhất về Scrum đều nằm ở đầu thập niên 2000s, phần sau là “ăn theo”. Vì thế những “nét mới” được trình bày trong “Software in 30 days” có thể là rất đáng chú ý. Nét mới này liên quan đến một khái niệm (còn chưa được trình bày trong sách) có tên: Scrum-And. Đây có thể coi như một vision (hay một lộ trình – roadmap) cho những người chuẩn bị “làm bạn” với Scrum. Như đã đề cập trong sách qua từng chương, từ 6-10, Scrum có thể được áp dụng ở nhiều cấp độ khác nhau (Pilot, RPN, Studio, Enterprise, Persistent Enterprise) tương đương với các cấp độ mà Scrum có thể tham gia sâu vào nền tảng văn hóa của công ty, như được mô tả trong hình dưới đây của Ken Schwaber:

scrumin30days-2

Nhìn vào ý tưởng Scrum-And, ta thấy Scrum là một lộ trình chứ không phải chỉ đơn giản là một tập hợp các practices ứng dụng tức thì. Theo lộ trình này, người làm quen với Scrum sẽ tự tin hơn về những thứ “chưa đạt được”, tránh ảo tưởng về một “silver-bullet” khi đến với Scrum, cũng để người dùng Scrum bớt “sốt ruột” hay “đốt cháy giai đoạn” để làm chủ Scrum và biến nó thành giá trị nền tảng cho văn hóa công ty. Đây quả là một lộ trình rõ ràng, mạch lạc mà hai tác giả của Scrum cung cấp cho những người “theo đuôi” họ.

Một cuốn sách mỏng, cập nhật, sáng sủa, tuy hơi có “mùi” quảng cáo. Đọc xong có thể bạn sẽ tự tin dùng Scrum hơn hẳn đấy!

Học cách tư duy tinh gọn và linh hoạt

Featured

Giới thiệu sách “Lean Mindset: Ask the right questions” của Tom Poppendieck và Mary Poppendieck

Đầu năm 2013, trong thời gian công du vòng quanh thế giới để thực hiện một loạt các workshop có tên Lean Mindset (trong đó cả Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh đều là điểm dừng chân, may mắn thay!), Tom và Marry đang hoàn tất cuốn sách cùng tên của mình: Lean Mindset. Có vẻ như đây là cuốn sách cuối cùng trước khi nghỉ hưu của hai “tư tưởng gia” (thought leader) của cộng đồng Agile quốc tế.

Bìa sách Lean Mindset

Bìa sách Lean Mindset

Trong khi phần nhiều sách Agile dạy “chiêu” (practices), với hàng loạt những “cách làm việc A, cách làm việc B, để làm việc C v.v.” thì thật hiếm có những sách dạy cách tư duy (mindset) làm “bánh lái” cho các “chiêu thức” đó. Bộ sách của nhà Poppendieck lúc nào cũng được săn đón bởi nó luôn khơi gợi và nuôi dưỡng tư duy cho những người người thực hành Agile, từ người tập tọe, tới lãnh đạo và các chuyên gia Agile khác.

Khi mới viết cuốn sách đầu tay rất nổi tiếng năm 2003, Tom&Mary vẫn còn xếp Lean Software Development (LSD) vào cùng họ với Agile Software Development (như tựa đề đã ám chỉ – Lean Software Development: An Agile Toolkit). Tuy nhiên, sau một thập kỉ, nhiều thứ đã thay đổi. Một số tác giả khác cũng đã cố gắng tiếp cận LSD theo cách thức độc lập với Agile, xếp nó như là bộ phận con của Lean Product Development. Bản thân Mary & Tom cũng đã có thời gian trải nghiệm đủ dài với LSD để nhận thấy những gì là khiếm khuyết, thiếu sót của Agile. Sau bộ ba cuốn sách với phạm vi được giới hạn trong thế giới phần mềm (lần lượt là: “Lean Software Development”,  “Implementing Lean Software Development” và “Leading Software Development”), Mary & Tom tự nhận thấy họ không thể viết thêm về phần mềm nữa, như lời bạt của cuốn sách thứ tư này đã đề cập. Do vậy, cuốn “Lean Mindset” xuất bản tháng 9 năm 2013 như là điểm kết thúc một chặng đường dài với Phần mềm để trở về với tư duy tinh gọn “thuần khiết” hơn, không bị ảnh hưởng bởi lĩnh vực hẹp và trào lưu Agile ồn ào như trước.

Ở Lean Mindset, hai tác giả muốn nêu bật đặc tính “là một tư duy” của Lean, chứ không phải là một “phương pháp” hay “chiêu thức”. Do đó, như tựa nhỏ của cuốn sách đã gợi ý, tác giả tập trung vào “hỏi các câu hỏi đúng đắn”. Việc này không chỉ là nội dung của bản thân cuốn sách, mà còn là phong cách xuyên suốt của quyển sách mỏng nhưng giàu ý tứ. Ngoài các câu hỏi chính yếu của từng chương như “Mục đích của kinh doanh là gì?”, “Bạn đang làm việc để làm gì?”, “Điều gì khiến con người làm việc hiệu quả”, “Năng suất là gì?” và nó có quan trọng không?, “vai trò của thiết kế là gì?” hay “vì sao phải cách tân đột phá?”; các tác giả còn liệt kê một danh sách dài những câu hỏi để bạn đọc động não, suy tư (reflect) kĩ thêm về tất cả các phương diện của một công việc có ý nghĩa. Với danh sách câu hỏi quý hơn vàng này, thời gian tương tác thực sự với cuốn sách có thể dài và sâu hơn rất nhiều so với số trang ngắn ngủi và lượng thông tin ít ỏi có chọn lọc của cuốn sách. Đó quả là một cách tiếp cận tốt để “tấn công” vào tư duy và thúc đẩy sự thay đổi tích cực.

Một trong những nét chấm phá thú vị của cuốn sách là sự xuất hiện của hai nhân vật giả tưởng Otto – một thanh niên có trực giác nhanh nhạy và Anna – một cô gái rất lí tính, lúc nào cũng đòi hỏi phân tính tỉ mỉ và chu đáo. Thỉnh thoảng họ lại hiện lên và làm nổ ra những đoạn hội thoại vô cùng hữu ích, có khi rất dài, cũng có lúc thật ngắn gọn, giúp cho bạn đọc vừa được thư giản, vừa tăng thêm chiều sâu tư duy cho nội dung được bàn tới. Có thể rất nhiều câu hỏi quan trọng của bạn sẽ được Otto và Anna trả lời hoặc khơi mào giúp.

Một đặc sắc nữa cuốn cuốn sách có lẽ là nằm ở các tình huống nghiên cứu được chọn lựa. Là một cuốn sách đậm tính triết lí, Lean Mindset vẫn có thể thu hút người đọc với những phân tích đa chiều và sâu sắc ở rất nhiều tình huống thực tiễn, như trường hợp của Intel, WIKISPEED, CareerBuilder, hay của Spotify. Những phân tích này thậm chí có thể gợi ý những quy trình công việc thực thụ cho những nhà lãnh đạo và quản lí doanh nghiệp.

Bất chấp nhiều ưu điểm như nhận xét bên trên, bạn đọc có thể gặp một số khó khăn nhất định nếu chưa một lần tìm hiểu qua Tinh gọn là gì. Cuốn sách này không tập trung định nghĩa nó, hay giúp người đọc có thể “triển khai” tư tưởng tinh gọn vào công việc (như ba tập sách trước từng làm). Vì vậy, có thể cuốn sách này sẽ kén người đọc hơn, vớt ít kì vọng “sát mặt đất” hơn.

Để kết thúc việc giới thiệu một cuối sách còn mới, còn chờ thời gian thẩm định độ hay/dở, chúng ta cùng nhau “thưởng thức” một vài câu hỏi hay được rút ra từ trong sách:

  1. Bạn đang làm công việc gì? Mục đích của công ty bạn là gì? Điều gì tạo cảm hứng để bạn làm việc mỗi sáng sớm? Nó có tạo cảm hứng cho người khác không?
  2. Thử tưởng tượng tuần sau tất cả mọi người trong nhóm của bạn trúng xổ số. Liệu họ có tiếp tục đi làm không? Điều gì khiến môi trường làm việc của bạn hấp dẫn mọi người làm việc hết mình, ngay cả khi họ đã trúng số độc đắc?
  3. Nếu được chọn chỉ một thử thách để tạo cảm hứng cho tất cả tổ chức làm việc tốt nhất, nó sẽ là cái gì?
  4. Có bao nhiêu phần trăm nhân viên trong công ty bạn được xếp vào dạng “đầy năng lượng”? Làm gì để họ được như thế?
  5. Thử tưởng tượng công ty bạn sẽ có một CEO mới trong nay mai, theo bạn thì cô ấy nên làm gì trước tiên?
  6. Thử tưởng tượng bạn được đề nghị thiết kế lại sản phẩm lõi của công ty. Nó sẽ trông như thế nào?
  7. Năng suất” có ý nghĩa như thế nào trong công ty của bạn? Bạn đo nó như thế nào? Nó có mối liên hệ như thế nào với “hiệu suất” tổng thể của công ty?

Xin mời!

PS. Trên TapChiLapTrinh.vn có một số tổng hợp về Tinh gọn, bạn có thể tìm hiểu thêm sơ bộ về tinh gọn (Lean) là gì: ở đây

[TRI THỨC LUẬN] Sáng tạo tri thức trong doanh nghiệp

Featured

Ikujiro Nonaka tiếp nhận quan niệm của A.N. Whitehead về tri thức như là một quá trình năng động có tính tương tác chứ không phải là thông tin tĩnh. Tương tác giữa người với người là nguồn gốc của tri thức, vì thế tri thức mang tính chủ quan, tính quá trình, tính thẩm mĩ và được tạo ra trong hoạt động.
Ông phân biệt hai dạng tri thức: Ẩn (Tacit Knowledge) và Hiện (Explicit Knowledge). Trong đó, tri thức ẩn là loại không nói được thành lời hay văn bản. Còn tri thức hiện là loại đã được thể hiện rõ ràng bằng lời hoặc văn bản.

Tri thức ẩn có thể chuyển biến thành tri thức hiện và ngược lại, theo một chu trình mà Nonaka gọi là SECI. Việc liên tục làm biến chuyển liên tục như một dòng chảy (flow) như thế sẽ giúp một tổ chức liên tục phát sinh các tri thức mới, là nòng cốt của các cách tân và sáng tạo. Lí thuyết quản trị dựa vào tri thức của Nonaka được xây dựng xoay quanh mô hình này.

Mô hình SECI về kiến tạo tri thức của Nonaka

Mô hình SECI về kiến tạo tri thức của Nonaka

Tham khảo: Quản trị dựa vào tri thức, Ikujiro Nonaka, Ryoko Toyama, Turo Hirata (2012).

Mẹ dạy: đã ăn là phải sạch

Featured

Hồi bọn tôi còn trẻ con, mẹ có dạy rằng ăn cơm không được để một hạt nào còn sót lại trong bát, ăn không hết là phải tội. Chả hiểu “phải tội” nghĩa là gì nhưng đứa nào cũng biết nghe lời mẹ ăn cho sạch. Đứa nào mà còn phải để mẹ nhắc chuyện ăn uống như thế là thấy xấu hổ lắm. Gần đây nói chuyện phiếm mới hay nhiều bà mẹ của bạn đồng trang lứa cũng dạy như vậy. Có cụ ông U80 cũng nói ngày xưa mẹ cụ “dọa” con bằng câu tương tự: “Ăn hết, không thì phải tội!”. Hóa ra từ xưa tới giờ các bà mẹ Việt đều dạy giống nhau cả.

Lâu nay tôi cố thử tìm xem cái “phải tội” ấy nghĩa là thế nào, nhưng chưa hiểu. . Đành tự bịa, tự thử giải thích theo lối suy diễn: để làm ra hạt gạo, người nông dân phải mất công lắm để lựa ra được thóc giống (giờ thì mua chứ không như ngày xưa nhà nào cũng tự để lại thóc tốt làm giống), ủ mầm, rồi gieo thành mạ, rồi nhổ ra đi cấy, rồi chăm cho cho tới khi trổ đòng, ra hạt, rồi lại thu hoạch, phơi phơi đập đập xát xát ra hạt gạo. Chừng ấy công đoạn diễn ra khoảng trên dưới trăm ngày, mà công đoạn nào cũng phải kĩ lắm, cũng phải một nắng hai sương, đổ mồ hôi sôi nước mắt. Vậy nên hạt gạo trắng được làm ra không đơn giản là một thứ lương thực chống đói, mà là một thứ “ngọc”, tinh túy lắm, thiêng liêng lắm. Phải chăng vì thế mà từng hạt cơm như có tính “tín ngưỡng” ở đó. Nếu ăn mà bỏ phí thì tức là phụ lòng giời đất, phụ lòng những người làm ra nó. “Ăn mà bỏ dở là phải tội” là vì như thế chăng?

Một quảng cáo tiết kiệm ở Canada (Nguồn: Internet)

Một quảng cáo tiết kiệm ở Canada (Nguồn: Internet)

Nghèo thì phải tiết kiệm. Người nghèo khó dạy con tiết kiệm từng hạt cơm là đúng quá rồi. Nghe nói người Nhật sau chiến tranh cũng tiết kiệm như thế. Họ không chỉ tiết kiệm, dạy con tiết kiệm trong cuộc sống hằng ngày mà còn nâng tầm phát minh ra những cách thức làm việc siêu tiết kiệm mà vẫn siêu năng suất. Ví  như hệ thống triết lí “Tinh gọn” chẳng hạn, nguyên lí hàng đầu của nó là “không để lãng phí”. Văn hóa tiết kiệm ấy không chỉ giúp dân tộc Nhật sống sót và đứng dậy mạnh mẽ sau sự phá hủy của chiến tranh, nó còn ăn sâu vào tiềm thức để trở nên một nét tính cách đặc sắc của người Nhật. Có chuyện thật như đùa, ngay cả khi nước Nhật đã là một nước giàu thứ 3 thế giới, thì họ vẫn là những người không quên nhắc nhở người khác phải sống tiết kiệm: phạt 25 đô la Mĩ nếu bỏ thừa một hạt cơm trong bát(1). Giáo dục ở khắp mọi nơi.

Rõ là Việt Nam không giàu, từ nông thôn tới thành thị. Nhưng đức tiết kiệm thì không phải lúc nào cũng được thể hiện rõ. Ngược lại, những hiện tượng lãng phí thì nhan nhản, nay đã phơi đầy trên mặt báo. Không biết từ bao giờ người ta có cái quan niệm quái gở này ở chốn đô thành: “Ăn phải bỏ thừa một tí mới gọi là sang”. Từ hồi tôi là một gã nhà quê lên tỉnh đã thấy mấy người nói như vậy, cho đến giờ vẫn thấy người ta ứng xử như thế. Có nhiều nhà văn hóa, trí thức đã lên tiếng về việc đó, nhưng hình như tiếng nói còn nhỏ quá so với những ồn ào của tắc đường và nhịp sống vội vã nơi đây. Nên vẫn đầy rẫy những chuyện lãng phí, từ cái nhỏ như hạt cơm trên bát cho tới cái nhà cái cửa, hay thậm chí cả ngàn tỉ đồng ở những công trình lớn tầm cỡ quốc gia. Nay không chỉ có những cái “phải tội” bâng quơ nào đấy, mà giờ còn có cả những cái “phải tội” rõ rành rành “lãng phí của công”, “gây thiệt hại nghiêm trọng”.

Nói như vậy không có nghĩa là toàn bộ dân thành thị hiện nay đều sống lãng phí hết cả. Tôi hay để ý cách ăn phở của mấy người bạn Hà Nội gộc(tạm tính là có 3 đời ở Hà Nội cho nó dễ tìm, chứ cứ tìm dăm bảy đời thì chắc là hết người mà lấy ví dụ mất) thì thấy cái nết ăn phở của họ hay lắm: ăn sạch sành sanh từ cái cho đến nước, không để lại thứ gì. Người rửa bát phở chắc là thích lắm, láng cái là đã sạch. Riêng về khoản này, tôi thấy mình xấu hổ vì không thể bì kịp: do mẹ sinh ra dạ dày đã hơi nhỏ, nên chỉ cố gắng ăn hết cái là đã phải “gác song kiếm”, dù rất muốn noi gương “người Hà Nội thứ thiệt”.   Ghi chuyện này ra đây để nhớ mình hãy còn phải “phê và tự phê”, phải “ra sức thực hành tiết kiệm chống lãng phí” nhiều lắm lắm. Hehe.

——–

(1): http://soha.vn/the-gioi/phat-500-nghin-neu-de-thua-thuc-an-20130217150438248.htm

[BookReview] Túi khôn của lập trình viên Agile cần trang bị những gì

Giới thiệu sách “Practices of an agile developer”

Câu hỏi đơn giản “một lập trình viên Agile cần phải làm những gì?” hóa ra lại không đơn giản. Có người thì nói rằng “không khác gì một LTV bình thường”, có người thì nói “phải siêu hơn LTV bình thường”, có người thì nói “làm gì có LTV Agile, chỉ có một LTV thôi”, thậm chí có người cố tình ‘hỏi ngu’ “Agile là gì?”.

Xin được thuyết minh ngắn gọn: một “lập trình viên Agile” (Agile Developer) là một lập trình viên (developer) làm việc trong các nhóm phát triển phần mềm có sử dụng các phương pháp phát triển phần mềm linh hoạt (Agile Software Development). Vì thế, câu hỏi “một LTV Agile cần phải làm những gì?” sẽ dẫn đến những công việc đặc thù (hoặc không đặc thù) mà một LTV Agile phải làm để hoàn thành nhiệm vụ; nếu chưa thể làm tốt vì thiếu hiểu biết hay thiếu kĩ năng thì cũng biết là mình không biết để còn học tập và nâng cao tay nghề, đặc biệt là cho những LTV chỉ quen làm việc theo các phương pháp phát triển truyền thống. Đó thực sự là một câu hỏi nghiêm túc. Thật may mắn, có vài cuốn sách trả lời câu hỏi trên, trong đó phải kể đến cuốn “Practices of an agile developer” (dịch là: Mấy “võ” của LTV Agile”), tác giả Venkat Subramaniam và Andy Hunt.

Các tác giả dành một chương để giúp bạn đọc hiểu được Agile là gì với việc diễn giải Tuyên ngôn Linh hoạt (mà một trong hai tác giả của cuốn sách – Andy Hunt – là đồng tác giả của văn bản nổi tiếng này, cũng là đồng sáng lập tủ sách hành dụng – Pragmatic Bookshelf với rất nhiều tựa sách có giá trị) và những bình luận quan trọng liên quan đến triết lí Agile. Chương tiếp theo được dùng để thảo luận về những vấn đề chung nhất khi làm việc trong các nhóm linh hoạt (agile team) như làm việc theo mục tiêu, trách nhiệm đảm bảo chất lượng, sự dũng cảm khi làm việc. Tác giả dành cả chương 3 để nói về tầm quan trọng của việc học – một tinh thần cơ bản của Agile – và các “mánh” để một LTV Agile liên tục nuôi dưỡng sự tiến bộ. Năm chương tiếp theo, các tác giả mô tả khá chi tiết theo tinh thần hành dụng (pragmatic) những công việc thiết yếu mà một LTV Agile phải làm hằng ngày: Hiểu đúng yêu cầu của người dùng và chuyển giao đúng cái khách hàng muốn, cung cấp và sử dụng những phản hồi thật hiệu quả khi phát triển, lập trình theo “phong cách” Agile với những kĩ thuật đặc thù và yêu cầu khắt khe về chất lượng công việc, gỡ rối (debug) theo “phong cách” Agile, và cộng tác hiệu quả trong nhóm làm việc. Chương cuối cùng được dùng để vừa tóm tắt, vừa hướng dẫn thiết lập một môi trường tiêu chuẩn để một LTV Agile có thể làm việc hiệu quả.

Đây là một cuốn sách mỏng, theo tinh thần thực dụng, vì thế khá ngắn gọn, dễ hiểu và dễ áp dụng. Bỏ qua một số phần dính dáng đến kĩ thuật liên quan tới phiên bản phần mềm, đây là một cuốn sách nhập môn quan trọng cho mỗi LTV Agile trước khi chị ta có thể đi sâu hơn vào nghiên cứu và thực hành từng phương diện đặc thù của một “nghệ nhân phần mềm” trong tương lai.

[BookReview] Hiểu Agile trong 2 giờ

Giới thiệu sách “Agile for Dummies”

Bìa sách “Agile for Dummies”

Viết sách cho kẻ ngốc (thể loại ‘For Dummies’) có thể là thể loại khó viết bậc nhất, vì luôn phải giữ sự đơn giản và dễ hiểu tối đa, trong khi không được làm mất đi tính đúng đắn của các khái niệm (đôi khi rất phức tạp).

Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng thế: các ý tưởng Agile vốn đã khá tự nhiên và dễ hiểu. Nhiều người chỉ cần bắt đầu tìm hiểu Agile với  gần 700 từ trong Agile Manifesto và một trang ‘đính kèm’ “Twelves Principles Behind the Manifesto”. Còn tác giả của Scrum, một phương pháp Agile thiên về quản lí phổ biến nhất, được mô tả trong hơn chưa đến 20 trang Scrum Guide (Hướng dẫn Scrum), Ken Schwaber từng nói “Scrum works for idiots” (“Đần mấy cũng dùng được Scrum”).

Nói là như vậy, nhưng như thế không có nghĩa là ngày nay chúng ta không cần có một quyển sách ngắn gọn giới thiệu tổng quan về Agile, vì lĩnh vực này đã có hơn hai chục năm phát triển với rất nhiều phương pháp, nhiều cách tiếp cận rất đa dạng như chính tinh thần của Agile vậy. Thật may là chúng ta có quyển sách mỏng chưa đến trăm trang với tựa đề “Agile cho kẻ ngốc” (Agile for Dummies) của Scott W. Ambler và Matthew Holitza do IBM ấn hành và phát miễn phí trên mạng.

Cuốn sách mỏng là tập hợp những cắt nghĩa hết sức ngắn gọn về các phương diện chủ yếu của Phát triển Phần mềm Linh hoạt (Agile Software Development): nó đến từ đâu, các vai trò chính yếu, vòng đời phát triển phần mềm, các kĩ thuật chính yếu của Agile.

Scott Ambler cũng kịp “quảng bá” cho cách tiếp cận Agile của riêng mình, có tên Disciplined Agile Development, trong cả một chương 5 và tản mát trong các chương khác. Dường như đó cũng là cách mà Scott Ambler và một số đồng nghiệp đã “thích ứng” để Agile giúp cho IBM “linh hoạt hóa” thành công. Câu chuyện về chuyển đổi linh hoạt của IBM hơi có mùi quảng cáo cho cuốn sách, nhưng cũng là một chương đáng chú ý. Nó nêu ra một ví dụ thực tiễn để những lãnh đạo ở các công ty có ý đồ áp dụng Agile nghiên cứu và suy xét.

Ở một cuốn sách “sơ lược”, tác giả lại dành cả 2 chương để nói về những sai lầm (Chapter 8: Ten common Agile Adoption Pitfalls) và hiểu lẩm (Chapter 9: Ten Myths about Agile). Thật là một dụng công hữu ích, bởi lẽ người ta hãy còn hiểu lầm (và cả “dụng lầm” nữa) Agile rất nhiều. Có thể đây sẽ là những chỉ dẫn rất thiết thực để giúp người mới đến với Agile tránh được những “đớn đau” không đáng có.

Một cuốn sách cô đọng, dễ hiểu nên đọc cho người mới bắt đầu, không phân biệt đó là developer hay manager.

NHỮNG HIỂU LẦM PHỔ BIẾN VỀ AGILE

  1. Agile chỉ là mốt nhất thời

  2. Agile rất vô kỉ luật

  3. Agile có nghĩa là “không có kế hoạch”

  4. Agile có nghĩa là “không có tài liệu”

  5. Agile chỉ có nghĩa đối với các nhóm ngồi chung phòng thôi

  6. Agile chỉ dành cho nhóm bé tí

  7. Agile không phù hợp với môi trường bị pháp luật kiểm soát chặt chẽ

  8. Agile có nghĩa là “tôi không biết sẽ chuyển giao cái gì”

  9. Agile không phù hợp với chỗ tôi

  10. Chỉ cần đội phát triển dùng Agile là được rồi

  11. Agile chính là viên đạn bạc, bách phát bách trúng

Trích Chương 10.

Sách được IBM cung cấp miễn phí, download tại đây: http://agileleansoftwaredevgroup.tradepub.com/free/w_ibmc635/prgm.cgi

Học gì từ truyện cổ tích FlappyBird

Chưa bao giờ làng công nghệ thông tin Việt Nam lại có câu chuyện rôm rả như thế về một
Screenshot_2014-02-14-09-42-44 game nhỏ xinh cho điện thoại di động: ứng dụng đứng số 1 AppStore trong suốt gần 1 tháng cho tới khi bị chính cha đẻ khai tử, là chủ đề thường trực hằng ngày trên các mặt báo – từ tờ báo hàng đầu Forbes, CNN, the Verge cho những trang lá cải trong và ngoài nước, tin đồn thu nhập 1 tỉ/ngày, cục thuế “hứa” sẽ để mắt đến, quán cafe đánh dấu “nơi này Hà Đông – cha đẻ của Flappy Bird hay lui tới”, tin đồn cha để FlappyBird tự sát bằng súng, phó thủ tướng vời gặp, và hàng loạt tâm thư của cộng đồng gửi cha đẻ của FlappyBird v.v. Hình như FlappyBird còn đã đánh bật các chủ đề về bánh chưng hoa đào và Ngựa đầu xuân trên báo mạng; những hình ảnh con chim ngu ngốc hình như đã khiến các trang lá cải quyết định bỏ hết hết những tấm ảnh hot girl hót ghiếc cởi trần đón Tết.  

Kể không xuể những thứ râu ria xung quanh câu chuyện cổ tích mang tên Flappy Bird.
Người viết bài này cũng tranh thủ câu chuyện còn đang nóng sốt, ngẫm nghĩ với câu hỏi trong đầu “học được gì?”. Phải làm ngay, vì chắc là phải lâu lâu nữa mới có chuyện hay như thế để mà “góp gió”.


1. Thế giới phẳng là có thật, giấc mơ mobile là có thật

Bạn có thể được nghe câu chuyện (hình như là bịa) về một anh chàng ăn xin ở Mĩ nhưng tay cầm iPad cũ và đang lúi húi học lập trình mobile mong đổi đời. Giờ thì bạn có câu chuyện khác hay hơn để nghe: từ một đất nước nghèo khó và lạc hậu, một lập trình viên trở thành triệu phú đô la nhờ việc tự mình làm ra những trò chơi đứng đầu bảng xếp hạng tại Mĩ.
Thế giới của Internet và mobile là khá bằng phẳng, cơ hội được trao gần như bình đẳng ngày càng nhiều người trên khắp thế giới, không kể đẳng cấp giàu nghèo. Nếu có, hãy cứ đam mê và theo đuổi giấc mơ. Cứ việc mơ lớn, chẳng ai đánh thuế cả, chuyện gì cũng có thể xảy ra.

2. Thành công không đến trong 1 ngày

Từ 2008, tác giả của FlappyBird đã thắng một giải (nhỏ) về lập trình di động. Vậy là anh đã có bề dày lập trình đủ lâu và đủ đam mê đến cùng để có được sản phẩm thuộc hàng top.
Giống như Gates, hay thậm chí Zuckerberg, họ đều thuộc dạng thực hành có chủ đích (deliberate practice) trong thời gian dài trước khi có được sản phẩm đinh hay thành công lớn. Một lần nữa người ta thấy thêm ví dụ về quy tắc 10000 giờ mà Malcom Gladwell lại được khẳng định cho quá trình phát triển tài năng. Thành công không đến trong 1 ngày.
Thay vì quá tập trung vào vị trí số 1 trên AppStore, phê bình truyền thông lá cải, hoặc con số doanh thu 1tỉ/ngày, sẽ thật tuyệt vời nếu như ai đó, hoặc các trường đại học mời được Đông kể lại chân xác con đường đi của mình, hoặc một nhà văn/nhà báo nào đó có thể ghi lại trung thực con đường ấy, hoặc Đông tự viết ra thật chân thành và đầy đủ con đường thành công của mình. Chắc hẳn nhiều người được lợi hơn, và câu chuyện “Đông FlappyBird” sẽ còn được nối dài thêm nhiều kì thú vị nữa.

3. Một siêu phẩm đến từ sự đơn giản và cá tính

Hà Đông chắc hẳn là người đã thành thục triết lí KISS (Keep It Simple, Stupid!) từ lâu mới có thể làm ra một FlappyBird đơn giản tới mức không còn gì để vứt đi nữa. Cả màn hình chỉ có 1 nút để bắt đầu cuộc chơi (play), một nút khác để rate, ngoài ra là “sân chơi” dành cho người chơi trải nghiệm. Không cần những thứ “tiêu chuẩn” như một chức năng “Back” hay một menu rối rắm với những tinh chỉnh âm thanh hay độ sáng màn hình mà hiếm khi người chơi cần phải sờ đến.
Giao diện đã tối giản, đồ họa còn tối giản hơn. Mới nhìn vào hình con chim, người ta có cảm giác tác giả là người rất cẩu thả. Thực tế là tác giả đã có ý đồ cho cái đồ họa đơn giản ấy, có thể FlappyBird sẽ tạo nên một xu thế mới trong đồ họa game không biết chừng. Mặt khác, Đông cho biết mình chỉ làm game trong 2-3 ngày, chắc chắn là anh phải biết rõ mình nên tập trung vào đâu: gameplay và trải nghiệm người dùng. Nhưng cái này cũng  hết sức giản dị (một cách tài tình). Người chơi chẳng có việc gì ngoài việc ấn ngón tay vào màn hình điện thoại, ấn đi ấn lại cho tới khi phát nghiện, muốn đập máy vì không thể đạt được 10 điểm, chửi tục vung vãi trên facebook hay twitter về một cái game “ngu xuấn nhưng khó cực kì”. Phải nói rằng  FlappyBird có thiết kế trải nghiệm rất chuẩn xác, ai chơi cũng phải thừa nhận nó rất khó, nhưng ai cũng sẵn sàng bỏ thời gian chơi thêm, share điểm trên Facebook của mình, và việc nó được rate hơn 4* chắc chắn không phải là vì người ta ghét. Có thể thấy sự tối giản của FlappyBird là để tập trung vào trải nghiệm người chơi, thiết kế game tập trung vào cách nó làm việc chứ không phải để ưa nhìn (design is how it works).
Game của Đông không có chỗ cho dư thừa. Không biết Đông có áp dụng triết lí Tinh Gọn (Lean) vào phát triển phần mềm không, nhưng rõ là rất có tinh thần tinh gọn. Chợt nhớ lời của Kiro Harada về lịch sử ra đời của phương thức quản trị và làm việc trứ danh có tên Toyota Production System (mà người Mĩ sau này phát trển thêm và đặt cho nó cái tên Lean), rằng TPS ra đời trong bối cảnh đất nước đói nghèo sau chiến tranh, mọi nguồn lực đều cực kì hữu hạn. Trong bối cảnh ấy, không có công nghệ, không có tiền bạc, và không có cả thời gian để lãng phí điều gì. Làm việc không lãng phí là một yêu cầu sống còn.
Phần mềm, trong suốt một thời gian dài cho tới ngày nay, thừa mứa các chức năng không dùng đến, không chỉ gây lãng phí nguồn lực của người làm ra nó, mà còn gây lãng phí cho người dùng nó. Không chỉ có vậy, sự thừa mứa các nút, các tính năng thừa thãi, phần mềm còn đánh mất đi cái cốt lõi, khiến người dùng phân tán sự tập trung vào tính năng quan trọng nhất, mang lại giá trị cao nhất cho người dùng. Chúng ta không thấy chút lãng phí nào trong FlappyBird và quá trình phát triển nó.
Cuối cùng, Đông đã bộc bạch anh đã theo đuổi đường lối về sự đơn giản như thế trong thời gian dài bất chấp nó đi ngược lại các quy tắc “truyền thống” của thiết kế game. Anh làm và thử nghiệm liên tục cho tới khi biết cá tính thiết kế của mình là hướng đi đúng đắn. Sự can đảm mày là một tố chất quan trọng của lập trình viên, đặc biệt là những người có máu craftsman.

4. Chỗ đứng cho các nghệ nhân phần mềm (software craftsman)

Trong khi nhiều công ty vẫn sản xuất các phần mềm bằng tư duy công nghiệp(engineering), thì có hàng loạt lập trình viên đang vô tình hoặc cố ý thực hành việc phát triển phần mềm theo kiểu thủ công. Xu hướng Software Craftsmanship (thủ công phần mềm) có thể đã khởi thủy từ khi có phần mềm, được thảo luận nghiêm túc lần đầu trong bài “What is software design?” của Jack W. Reeves với nhận xét bản chất việc làm phần mềm giống với thủ công hơn là “sản xuất công nghệp”, tiếp đến với hai cuốn sách Pragmatic Programmer của Andy Hunt và Software Craftsmanship của Pete McBreen cùng với trào lưu Extreme Programming rất mạnh mẽ thời kì đầu 200x, cho tới khi có Tuyên ngôn Nghề thủ công Phần mềm (2009) về một  đường lối riêng trong phát triển phần mềm thì cộng đồng những “nghệ nhân phần mềm” dường như đã rất đông đảo.
Những indie developer như Đông đều là những “nghệ nhân” đẽo gọt phần mềm “bom tấn” của mình không ở trong các tòa nhà hoành tráng của các hãng sản xuất phần mềm lớn mà có thể chỉ đơn giản trong một quán cà phê wifi rẻ tiền ở ngoại ô. Với thông tin và trí tuệ được chuyển dịch lên Intetnet, sự dịch chuyển của công nghệ sang mobility và cloud như một cú hích mạnh hơn nữa nghệ nhân như thế có đất dụng võ.
Được mô tả như là một trào lưu mới, nối gót tư tưởng Agile Software Development đã rất phổ biến trên thế giới, Software Craftsmanship có vẻ như sẽ là kiến thức cơ bản cần học và thành thục cho các thế hệ lập trình viên của thời hiện nay.
Bản dịch Tuyên ngôn Nghề thủ công Phần mềm

Bản dịch Tuyên ngôn Nghề thủ công Phần mềm

4. Một tưởng tượng tích cực  

Rovio, công ty Phần Lan làm ra Angry Bird vài năm trước, nay đã thành một công ty game có tên tuổi với doanh thu hàng trăm triệu đô la. 
Người ta tưởng tượng cái cảnh một ngày  .GEARS của Nguyễn Hà Đông có thể vượt xa hơn thế. FlappyBird giống như Gangnam Style, có thể đơn giản chỉ là một hit để đời. Nhưng cá tính thiết kế của .GEARS (được khẳng định trên hai game khác, cũng trong Top 10 của Đông) có thể sẽ dẫn dắt một trào lưu thiết kế mới như cách nó dẫn dắt câu chuyện trên truyền thông hiện nay. Có thể lắm chứ.
 
Có điều này tôi vẫn đang đặt vào diện nghi vấn: có vẻ Đông không thích truyền thông lắm, cũng có vẻ .GEARS không có ý đồ rõ rệt lắm cho cái viễn cảnh giống Rovio ở Bắc Âu vốn rất giỏi cả công nghệ và khởi nghiệp. Nếu thế thật thì nó khơi ra một vấn đề cho các sinh viên và giảng viên các cơ sở đào tạo lập trình viên: cần phải chuẩn bị cho các sinh viên một khả năng giao tiếp và truyền thông chủ động, bên cạnh đó là các kĩ năng nền tảng về kinh doanh và khởi nghiệp. Các lập trình viên hiện nay vốn tập trung quá nhiều vào ngôn ngữ lập trình, thuật toán và công nghệ; những lập trình viên này thường bị gói trong hình ảnh là những tay lập dị ít nói không thân thiện. Có thể những nhân tài này sẽ đánh mất rất nhiều cơ hội mang về nhiều đô la về cho chính mình và cho quốc gia còn đang khao khát từng đồng đô la cho phát triển. Chúng ta đều biết rằng, đến nay người ta vẫn còn hỏi Bill Gates (hay Mark Zuckerberg, ví dụ thế) là lập trình viên hay là doanh nhân vì họ làm hai nghề ấy một cách tài tình ít người sánh kịp.

Thay lời kết

Trong khi các vận động viên đang nỗ lực giành huy chương trong thế vận hội ở Sochi thì Hà Đông đã có được kỉ lục cho riêng mình. Tôi tin là Đông và con chim ngu của anh sẽ còn tạo niềm hứng khởi cho hàng nghìn lập trình viên tiếp tục cày ải để nuôi giấc mơ chinh phục thế giới. Một liên tưởng cho vui: nhà nước đang tính đầu tư 4 tỉ cho Ánh Viên để hy vọng có được huy chương tại ASIAD, Hà Đông thì sờ sờ ra đấy. Liệu có ai dám đề xuất trao Huân chương Lao động cho Đông và giúp .GEARS của anh nhanh chóng thu hàng triệu đô về cho đất nước? Đăt câu hỏi này, trong đầu tôi lại lởn vởn câu théc méc của ai đó “nhưng cơ chế không cho phép”.

Cực ngắn ngày đầu xuân

Tết rồi đến nhà ông chú lấy bà cô gọi ông nội mình bằng bố ruột có nghe được câu chuyện chả đến nỗi giật mình nhưng cũng khiến đầu óc phải vướng bận. Chú kể: “Chú đang tính gọi thằng B từ Hà Nội về đây làm ăn, mỗi năm một cái ao bét ra cũng cho được bốn năm mươi triệu tiền lãi chứ cứ lang thang mãi ở dưới đó làm ăn gì không biết, chả giữ được đồng nào, khổ quá!”

Đã dốt đừng sáng tạo

Nhân dịp suy nghĩ về các việc làm trong năm tới đây, tôi lại tự thưởng cho mình giây phút an nhiên cùng người bạn thân thuộc, cuốn sách  “Dân chủ và giáo dục” của Dewey.

Chợt liên tưởng tới ba việc không dính dáng mấy đến nội dung quyển sách.

Một. Dịp ra mắt cuốn sách này, dịch giả Phạm Anh Tuấn có nói “hãy thôi ngay các cuộc tranh cãi về triết lí giáo dục, trên thế giới này chỉ có vài người bàn được về triết lí giáo dục thôi”. Quả thật có quá nhiều người thích bàn về triết lí giáo dục mà kì thực cái cả cái nền tảng triết học cũng như tầm tư tưởng ấy chả hơn gì mấy bác nông dân ở quê mình. Chỉ khác cái là các lão nông thì chỉ ngồi nhẹ nhàng đưa đẩy quanh chén chè đặc chát đấm, còn các vị salon ở Hà Nội thì có diễn đàn, truyền thông này nọ tung hô. Kết quả của những cuộc cãi vã thiếu la bàn ấy thì ai cũng đã rõ. Cá nhân tôi hết sức ủng hộ việc phải nói, phải nghĩ, phải chia sẻ, phải viết lách, thậm chí phải … sai. Nhưng thấy cũng cần nhắc mình và các bạn minh hết sức tránh cái bẫy chém gió vô bổ như thế.

Hai. Một vị có thể coi là quyền cao chức trọng ở một đơn vị giáo dục có uy tín sau một hồi đọc được chương sách tóm tắt về triết học giáo dục trong một cuốn sách ứng dụng, có nhận ra: ô thế hóa ra ở trường mình đã có cả rồi, perenialism một tí, behaviorism một tí, constructivism một tí… như thế có nghĩa là trường mình theo trường phái “chiết trung”. Rồi, lại vẫn quyển sách ấy dạy “bạn phải có triết lí cho riêng mình”. Thế rồi ông ấy tỏ ra hết sức yên tâm về “triết học” của trường mình, thế là chả cần đổi gì cả – cứ thế mà làm thôi. Không biết khóc hay cười.

Ba. Giáo sư vô cùng đáng kính Hoàng Tụy có nhắc đi nhắc lại cái mệnh đề này “giáo dục của ta không giống ai”. Nguyên nhân của nó là những “sáng tạo” lố lăng và tùy tiện. Ông cũng khuyến nghị, mình đi sau thì “hãy làm giống người ta đi đã”. Cái bệnh ưa mẹo vặt, nghĩ ngắn, cùng với khả năng biến báo thích ứng quá nhanh của người mình hình như đang là bệnh “nan y” cản trở tất cả những ý tưởng cải cách đổi mới tử tế.

Thường xuyên tay ngang, lại không chịu học hỏi, lại muốn có kết quả ngay tức thì. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn có xếp cái “tinh thần nghiệp dư” đó vào một “thói hư tật xấu” của người Việt. Sửa cái tật này thế nào đây? Hình như gợi ý có cả rồi: ông Phạm Anh Tuấn dặn “đừng có mà bàn nhiều”, làm đi, làm giống những anh được chọn nhiều (Dewey trong tư duy về giáo dục chẳng hạn); GS Hoàng Tụy nói “làm theo chuẩn mực của thế giới” (trong khoa học và giáo dục). Tôi được kể lại là dân học võ Nhật rất thấm nhuần trình tự SHU-HA-RI: bước một là làm như được dạy (SHU), làm đúng sách; xong rồi mới được sang bước hai(HA), chỉnh đi cho hợp ngữ cảnh (cơ địa, tình huống …); tinh thông căn bản rồi mới chạm đến bước sáng tạo (RI) – quên sách đi, khi này sách và người là một. Đấy, các cao nhân nói chả khác nhau là mấy, vì nó chạm vào tầm nguyên lí  (có người nói: tầm triết lí) của sự việc. Để nguyên lí nó dẫn dắt thì việc làm dễ bề đúng hướng. Bấy lâu nay người ta làm vừa thiếu nguyên lí vì không chịu học hỏi. Thậm chí người ta ưa thích việc nhặt chỗ này một tí, nhúp chỗ kia một tẹo cho vào cái lẩu thập cẩm có tên “triết lí” của mình. Như thế là chặt nguyên lí cho vừa ý mình. Làm như thế là dễ dãi, làm ngược.