Sức mạnh của thái độ và thói quen

Niềm tin sẽ làm nên suy nghĩ của bạn, Suy nghĩ đó sẽ làm nên lời nói của bạn, Lời nói đó sẽ làm nên hành động của bạn, Hành động đó sẽ làm nên thói quen của bạn, Thói quen đó sẽ làm nên giá trị của bạn, Giá trị đó sẽ làm nên số phận của bạn. – MAHATMA GANDHI

Hãy bắt đầu từ thái độ

Chúng ta có thể gặp những người ngoài 60 tuổi vẫn rất chịu khó học hỏi, những cụ 70 vẫn lọ mọ học máy tính để chat với con cháu ở xa. Họ là ví dụ của những người có mô thức phát triển (growth mindset, chữ của nhà tâm lí học Carol Dweck ở đại học Stanford). Những người này không để tuổi tác đè nặng, họ học hỏi không ngừng, thích chinh phục những thử thách, thấy khó tìm cách vượt qua, mỗi cơ hội làm việc được tận dụng để hoàn thiện chính mình, luôn coi các chỉ trích hướng vào mình như là cơ hội học tập, và vui mừng khi thấy sự thành công ở người khác. Đây là mẫu tư duy thường gặp ở những người thành công trong các lĩnh vực học thuật, kinh doanh, hay nghệ thuật. Continue reading “Sức mạnh của thái độ và thói quen”

6 BÍ KÍP QUẢN VIỆC CỰC HIỆU QUẢ, TRIỆT TIÊU STRESS CHO NHỮNG KẺ THẾ MÀ ĐẦN

Chào bạn, một kẻ #ThếMàĐần bận rộn. Nếu bạn bị cái tít dụ đến đây thì chứng tỏ là bạn đang để ý tìm kiếm một phương kế để hoàn thành công việc tốt hơn, năng suất hơn, hiệu quả hơn, mà mất ít stress hơn. Tôi lại tặng bạn #ThếMàĐần một món quà đặc biệt: 6 bí quyết quản việc cực đơn giản mà hiệu quả. Chỉ cần bỏ ra mươi phút đọc hết bài này, bạn sẽ thấy mình sẽ lãi to. Thề đấy, hehe! Continue reading “6 BÍ KÍP QUẢN VIỆC CỰC HIỆU QUẢ, TRIỆT TIÊU STRESS CHO NHỮNG KẺ THẾ MÀ ĐẦN”

Vấn đề năng lực: Muốn nhanh phải từ từ

Nghĩ về Mozart, chúng ta thường hay tưởng tượng ra một thiên tài có khuôn mặt trẻ thơ được trời phú năng lực chơi đàn piano đỉnh cao từ tấm bé. Tuy nhiên nhà tâm lý học Anders Ericsson ở Đại học bang Florida lại quan sát thấy một sự thật khác: vào lúc 6 tuổi khi Mozart có thể chơi piano thành thục, cậu bé đã tích lũy không ít hơn 3 500 giờ thực hành không ngừng nghỉ với sự kèm cặp của thầy giáo chính là người cha của mình. Ericsson chính là người dõng dạc tuyên bố: không có nhân tài tự nhiên sinh ra, họ đều được hình thành nên qua một quá trình luyện tập chuyên tâm với thời gian được tính bằng con số 10 nghìn giờ; điều đó đúng cho cả Mozart và những người được coi là thiên tài khác.

Continue reading “Vấn đề năng lực: Muốn nhanh phải từ từ”

Học cách học: Một bài học quan trọng bậc nhất đang bị bỏ quên

Nếu bạn gặp một bài toán khó, dù cố gắng nhiều mà giải mãi không xong, thì làm thế nào? Câu trả lời phổ biến nhất là cố gắng tìm ra chỗ sai trong lập luận rồi đi tiếp hoặc “làm lại từ đầu”. Cả hai phương án theo kinh nghiệm này không phù hợp với những lời khuyên của các chuyên gia về não bộ.

Continue reading “Học cách học: Một bài học quan trọng bậc nhất đang bị bỏ quên”

Vì sao các tổ chức không học hỏi?

Qua quan sát, tôi thấy rằng có một hướng đi khác: sử dụng Agile có thể biến đổi tổ chức sang hướng mở hơn, agility cao hơn, thích ứng tốt hơn, và dễ dàng đạt được learning organization ngay từ sớm, sâu tận gốc. Việc “go agile” này, sẽ bao gồm được cả 5 trụ cột của Senge, vượt qua được 4 nhóm rào cản mà các GS mới đăng ở HBR, gom được cả những nghiên cứu do Nonaka chỉ ra về việc tạo dụng và lan truyền tri thức trong tổ chức hoạt động dựa vào tri thức.

Ngày nay thế giới biến động, công nghệ phát triển nhanh, khiến các công ty lúc nào cũng bị đặt vào tình thế bị biến từ vị trí số 1 trong ngành thành bóng ma của quá khứ. Hãy nhìn tấm gương Nokia mobile, Motorola mobile, và hàng loạt tên tuổi lớn khác. Continue reading “Vì sao các tổ chức không học hỏi?”

Liệu“Học tập Trải nghiệm”có hay bị hiểu sai?

Trước hết là do hiểu sai khái niệm giáo dục học “trải nghiệm”. Hay bị gán ghép với ý nghĩa thông tục của trải nghiệm, cho nên có chuyện “cho đi ra đồng trải nghiệm” – thực chất là cưỡi ngựa xem hoa.

Learning-by-doing là một chủ trương học tập, không phải một phương pháp, cũng không phải một phương pháp luận. Xuống đồng cuốc đất chưa chắc đã nắm được điều căn bản gì của nghề nông. Nhiều cách làm “học trải nghiệm” hiện nay không tiến xa được bởi có làm nhưng chưa có sự nghiệm lại. Thực tế, quy trình học tập trải nghiệm liên quan chặt chẽ với quy trình tiếp nhận thông tin từ các giác quan và xử lí nó, đưa thành nhận thức và lưu giữ trong não bộ. Học tập trải nghiệm, theo  Kolb, là một quá trình vận dụng các hiểu biết về tâm lí và cơ chế học tập của não bộ để việc học được tự nhiên cũng như đạt kết quả cao hơn. Nó rõ ràng không thể là hình thức đơn giản hóa “cho đi trải nghiệm” được.

br
Mối liên hệ giữa các thao trong chu trình experiential learning với các vùng trên vỏ não.

Ở đây chúng ta có quy trình bốn bước: Kinh nghiệm -> Phản tư -> Khái niệm hóa -> Kiểm tra tính đúng đắn. Rồi lặp lại.

Trước khi vạch ra mục tiêu của khóa học, sinh viên đã có sẵn kinh nghiệm rồi. Có một khoảng cách giữa kinh nghiệm cá nhân sinh viên với các mục tiêu đó (mục tiêu này có thể là từ bên ngoài vào hoặc tự đặt). Nếu phải vẽ ra những con đường để đi đến mục tiêu học tập, cần phải là con đường của chính mình, chỉ có như vậy mới có thể giải phóng và mở rộng kinh nghiệm. Toàn bộ công việc giáo dục có ý nghĩa là vẽ ra và đảm bảo người học đi được con đường đó. Đó mới thực sự là “constructivism”. Và khi làm theo một trình tự hợp lí, kiểu như Kolb, thì ta có được cách học tự nhiên nhất.

Nếu ta lại giúp người học tích hợp và vận dụng được vào các tình huống của cuộc sống, giúp cho quá trình học tập cũng là một quá trình sống đích thực, thì tức là ta có học tập đích thực (authentic learning).

Kinh nghiệm là nguồn gốc (có thể không phải là duy nhất) của nhận thức. Bản chất của kinh nghiệm là xây dựng các tương tác với thế giới xung quanh, tạo nên những nhận thức mới. Kolb nói việc giáo dục cơ bản là giải phóng và mở rộng kinh nghiệm. Cho nên giáo dục phải lấy cái gốc trải nghiệm (một cách gọi khác của kinh nghiệm: vừa là cái đã kinh qua, vừa là cái đã tụ lại) để phát triển. Nói ngắn gọn, learning-by-doing thực chất là xoay quanh cái gốc trải nghiệm để tổ chức sự học của con người.

Kiến tạo: Em định cái nghĩa

Bác Tổng: Constructivism là gì?

Tấn:  là lí thuyết về việc học, hay là lí thuyết về cách học

Có nhiều lí thuyết về việc học không?

Có nhiều, behaviorism, construcitivsm, đủ các kiểu ism luôn.

Thế học tập qua trải nghiệm có phải là cách học không?

Có là cách học.

Nó có phải là constructivism không?

Có.

Thế vậy Constructivism là lí thuyết về cách học hay là cách học?

Nó là lí thuyết về cách học, còn có nhiều cách học cụ thể đi theo lí thuyết đó. Nó là instance của một thứ abstract.

Thế định nghĩa của constructivism là gì?

Định nghĩa của em là “học tập là sự tự kiến tạo tri thức thông qua sự trải nghiệm và tương tác giữa kinh nghiệm với các ý tưởng bên trong và bên ngoài của cá nhân”?

Có định nghĩa khác không?

Có rất nhiều.

Nó như thế nào? 

Em có thể tra Google, ra một đống. Nhưng em đang nói cái constructivism của em. Cái này cũng cần trải nghiệm.

Sao ông không nói trắng ra luôn?

Bạn bác Tổng: ông có slide định nghĩa không?

Không, em không chơi kiểu đó. Em đi tìm nghĩa, không trích định nghĩa.

OK, fine. 

[Chúng ta] ‘Năng lực tự học là cốt lõi trong thời đại mới’ 

Buổi chuyên đề “Học cách học” với diễn giả Dương Trọng Tấn chiều ngày 24/5 mang đến cho sinh viên FPT Arena và nhiều bạn trẻ khác cái nhìn sâu sắc về việc học và nghệ thuật học. 

Anh Dương Trọng Tấn là cựu Giám đốc FPT Aptech, hiện giữ vai trò Giám đốc Học viện Agile. Đây là đơn vị cung cấp các giải pháp học tập và huấn luyện Agile tiên phong tại Việt Nam. Trong thời gian dài, diễn giả dành nhiều sự quan tâm đến cách học, cách con người học và cách giáo viên giảng dạy. Anh nhận ra “đôi khi mọi người học theo thói quen của người khác và theo kinh nghiệm là chủ yếu”. Anh Tấn cho rằng giáo viên cũng không ngoại lệ. Trừ kiến thức từ trường sư phạm, họ sẽ nhìn người đi trước dạy như thế nào và áp dụng, không để tâm đến cách bản thân mình và người khác học thế nào là hiệu quả. “Tôi cho đó là điều chúng ta bỏ quên và lãng phí bởi nếu hiểu hơn về cách não bộ hoạt động và cách tiếp cận kiến thức sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian và việc học cũng rất hiệu quả”, anh bình luận.

Ba câu hỏi được diễn giả đưa ra và câu hỏi nào là quan trọng nhất là vấn đề dành cho hơn 50 sinh viên tham gia chương trình động não. “Học cái gì?”, “Học để làm gì” và “Học thế nào?” được mọi người thảo luận sôi nổi. Có sinh viên khẳng định: “Thích thì học”. Anh Tấn diễn giải việc quan tâm đến cả ba câu hỏi này đều quan trọng như nhau. “Học cái gì?” được diễn giả đánh giá là không dễ trả lời. “Điều quan trọng là muốn mới học được, còn không muốn thì chữ có nhét vào đầu cũng sẽ chạy ra. Giáo dục là làm thế nào người ta muốn học, khi đó mọi việc đều được giải quyết”.

1-7233-1464167557.jpg

Anh Dương Trọng Tấn bắt đầu sự nghiệp giảng dạy năm 2004, từng làm công tác giáo dục tại FPT Aptech và ĐH FPT. Ảnh: Yến Nhi.

Anh cho rằng việc tự đặt ra câu hỏi “Học để làm gì?” cũng góp phần đánh thức niềm cảm hứng cho bản thân, sau đó mới chọn được sẽ học cái gì. Tất nhiên điều này đang được đặt trong bối cảnh người trong cuộc có thể chọn học bất cứ cái gì mình muốn. Cả hai câu hỏi đầu đều không phải do chính người học quyết định được hết bởi có rất nhiều sự tác động mong muốn hoặc không mong muốn từ nhiều phía. Tuy nhiên, câu hỏi “Học như thế nào?” là hoàn toàn có thể tự chủ được. “Kể cả khi bạn bị ép buộc học cái gì thì vẫn có thể tự quyết định sẽ học như thế nào. Lúc ấy có thể giảm đi sự khổ sở nếu bị ép và vượt qua khó khăn ban đầu để làm được. Học như thế nào không chỉ quan trọng với học sinh, sinh viên mà còn cả người đã đi làm”, Giám đốc Học viện Agile khẳng định.

Hàng loạt câu hỏi được diễn giả lần lượt đưa ra cho các học viên dần lý giải về những cách học hiệu quả và vai trò của nó trong thời đại mới. Nên làm gì khi đứng trước một tình huống đau đầu không giải quyết được? Theo kết quả từ các nhà nghiên cứu, thực chất đó là khi con người đang rơi vào trạng thái suy nghĩ tập trung. Lúc đó, các nơron thần kinh chỉ ở một số vùng nhất định không thể phát huy hết được toàn lực bộ não. Trong khi đó, nếu ở trạng thái thư giãn nhịp nhàng, phạm vi hoạt động rộng thì não lưu giữ thông tin ở nhiều nơi khác nhau và có thể sẽ tìm ra lời giải ở những nơi mà não không hoạt động khi đang ở trạng thái tập trung. “Nếu đang đau đầu và bạn cố giải thì không bao giờ phát huy được. Lời khuyên từ các nhà khoa học là hãy bỏ đấy, đi chơi đã”, anh chia sẻ.

Khi não ở trạng thái thoải mái sẽ giúp con người làm việc hiệu quả. Não cũng cần được nghỉ ngơi bằng cách có một giấc ngủ tốt. Một số nghiên cứu cho thấy nếu một người mất ngủ đêm trước thì hiệu suất công việc ngày hôm sau giảm đến 30-60%. Có nghĩa là sau một đêm mất ngủ thì năng lực của một người sẽ mất đi phân nửa. “Đó là lý do tại sao chúng ta thường được khuyên trước khi đi thi không nên ôn bài mà hãy đi ngủ sớm. Đối với người đi làm, trước một dự án quan trọng không nên quá cố mà hãy ngủ sớm để có hiệu suất tốt nhất vào hôm sau”.

2-1281-1464167557.jpg

Buổi chuyên đề có tính tương tác cao tạo sự tập trung ở người tham dự. Ảnh: Yến Nhi.

Anh Tấn chỉ dẫn cho học viên một số kỹ thuật cũng như những gợi ý học hiệu quả như Pomodoro với quy luật cứ làm việc 25 phút thì nghỉ 5 phút bởi các nghiên cứu cho thấy não bộ con người chỉ tập trung được 10 phút thì sẽ bị xao nhãng, kỹ thuật chunking với việc tạo lập ý nghĩa, kỹ thuật ghi chép hiệu quả Cornell Note Taking System, Kolb’s Learning Circle hay Growth Mindset, Mindmap… Từ đó, sinh viên có thể tự mình chắt lọc những cách học phù hợp với bản thân.

Các nghiên cứu cho thấy một người làm việc liên tục càng có khả năng stress cao và cũng làm giảm chỉ số IQ. Theo Giám đốc Học viện Agile, không nên học quá nhiều hay tiếp nhận thông tin đồ sộ trong một lúc vì não của con người trong một thời gian ngắn chỉ xử lý được lượng thông tin hữu hạn. Cụ thể, một nghiên cứu vẫn đang tiếp tục được thực hiện tại Trung Quốc từng chỉ ra những người có xu hướng chia sẻ nhiều trên mạng xã hội có khả năng ghi nhớ và hiểu biết kém hơn. Điều này chứng tỏ càng làm nhiều việc một lúc càng dễ xao nhãng và mệt mỏi. Diễn giả cũng lấy dẫn chứng từ phương pháp làm việc tại Toyota. Các nhân viên ở đây phải luôn luôn ghi nhận việc chưa làm xong và chúng không bao giờ được lớn. Có nghĩa là họ phải xây dựng thói quen hoàn thành công việc này rồi mới chuyển sang công việc khác để tránh xao nhãng, stress cũng như hiệu suất công việc giảm khi ôm đồm quá nhiều thứ một lúc.

Một điều nữa được Giám đốc Học viện Agile nhấn mạnh là bất kỳ kỹ năng nào cũng đều phải được tập luyện mới trở nên thuần thục. 10.000 giờ làm việc chú tâm là con số chung của những người thành công trong bất kỳ lĩnh vực nào. Và việc học tập cũng không giới hạn ở phạm vi độ tuổi hay môi trường nào. Điển hình là giáo sư Vũ Anh Tuấn, Trưởng Bộ môn Văn học dân gian – ĐH Sư phạm Hà Nội, vẫn học Tin học năm 59 tuổi, học tiếng Anh năm 60 tuổi và sắp học xong lái xe ôtô. Một người khác được diễn giả nhắc đến vẫn kiên trì học tập dù đã lớn tuổi là nhà giáo Phạm Toàn – người nhận giải thưởng Phan Chu Trinh năm 2015, khởi nghiệp năm 78 tuổi. Ở tuổi 84, ông vẫn làm việc 14-16h mỗi ngày. “Điều này chứng minh thái độ rất quan trọng với việc học”. Khi người ta còn muốn học, không gì là giới hạn.

3-1641-1464167558.jpg

Hơn 50 thành viên tham dự chương trình đến từ nhiều trường khác nhau, trong đó có học sinh cấp 3. Ảnh: Yến Nhi.

Anh Tấn bày tỏ, chúng ta đang sống ở thời đại mà mọi thứ đều trở nên thay đổi quá nhanh dẫn đến những gì được dạy trong trường dễ trở nên lạc hậu. Internet có thể rất rộng lớn nhưng kỹ năng tìm kiếm, xử lý và mang nó thực sự giá trị cho đời sống của mỗi người là một nghệ thuật. “Không gì khác ngoài việc tự học có thể giúp được.  Năng lực tự học là cốt lõi trong thời đại mới”, anh nói.

Buổi chia sẻ của cựu Giám đốc FPT Aptech mang đến cho các thành viên tham gia nhiều hứng khởi và mọi người hoàn toàn chú tâm vào phần diễn giải của anh suốt hơn 2 giờ. Không chỉ thu hút nhiều sinh viên trường khác, buổi chuyên đề thú vị này còn có sự tham gia của những hoc sinh cấp 3. Hoàng Cao Chí, sinh viên năm ba ĐH Mở, đọc thông tin chương trình trên mạng xã hội và quyết định tham gia. “Buổi chuyên đề có tính tương tác cao với cấu trúc nội dung và truyền đạt tốt. Qua đây em học được cách tự định hướng và hiểu rõ về quá trình học tập của bản thân”.

Yến Nhi

 

Từ ScrumFoundation tới PragmaticScrum

Năm năm trước tôi đã tự mình thiết kế và triển khai khóa Scrum đầu tiên: Scrum Foundation. Khóa học diễn ra ở Viện tin học Pháp ngữ. Lúc đó, rất nhiều anh em đã động viên tổ chức các khóa học tiếp theo vì tính hữu ích của nó. Nhưng cũng chỉ làm được thêm vài khóa nữa rồi dừng vì không có điều kiện về thời gian.

Phải đến năm 2016 này, chúng tôi mới trở lại với một khóa học Scrum được nâng cấp toàn diện: Pragmatic Scrum

Chúng tôi thiết kế với thời gian dài hơn gấp đôi: 2 ngày, đủ để người học vừa lĩnh hội khung khái niệm, vừa đủ để học được các kĩ năng thực hành cơ bản nhất khi một nhóm làm việc với Scrum. Nó cũng vừa đủ để cả những người đã từng học Certified ScrumMaster vẫn hài lòng vì tính thực tiễn cao, và khả năng “giải ảo” Scrum. Đây cũng là khóa học đầu tiên tại Việt Nam áp dụng phương pháp eduScrum vào giảng dạy. Chúng tôi cố gắng thiết kế khóa học có tính trải nghiệm tối đa, và đề cao tính thực dụng trong nội dung học tập.

Scrum đọc thì dễ, nhưng làm cho đúng cho đến thành thục thì không dễ. Do vậy, chúng tôi đầu tư rất nhiều để những ai đi học Pragmatic Scrum thấy mình đã chọn lựa thật đúng đắn. Cho đến giờ, hầu hết mọi người đi học Pragmatic Scrum đều hài lòng với kết quả từ khóa học. Những phản hồi từ các học viên khi rời lớp học để mang Scrum về áp dụng tại công ty có thể nói là hết sức tích cực. Đó là một niềm vui không nhỏ đối với đội ngũ của Học viện Agile non trẻ.

Hè này, chúng tôi lại khai giảng thêm một khóa nữa. Tôi lại rất háo hức mong chờ để được đồng hành cùng các Scrummer tiếp theo.

Scrum banner_web.jpg

Xem thêm: http://hocvienagile.com/pragmatic-scrum/

Agile–động cơ mới của doanh nghiệp trong nền kinh tế sáng tạo

Tháng 7 năm 2015, Microsoft tiếp đoàn chuyên gia củaScrumAlliance đến thăm khối phát triển của mình, nơi quy tụ gần 4,000 nhà phát triển có nhiệm vụ làm ra hầu hết các sản phẩm phần mềm trứ danh của Microsoft, để chia sẻ câu chuyện “Hành trình chuyển đổi Agile của Microsoft” với cộng đồng học tập của ScrumAlliance – nơi quy tụ hơn 400,000 thành viên là những nhà thực hành, chuyên gia, nhà huấn luyện Agile/Scrum ra trên toàn cầu. Trong khi công chúng nói chung có ấn tượng Microsft như là một “chiếc chiến hạm khổng lồ chậm chạp” thì cái mà đoàn chuyên gia của ScrumAlliance nhận được là một hình ảnh đối lập: “tập đoàn quân” sản xuất của Microsft là một thiết chế linh hoạt, với cơ cấu đơn vị đội sản xuất nhỏ từ 10-12 người, đang vận hành mô hình sản xuất dựa trên những triết lí của Agile.

agile_trends.PNG
Sự quan tâm tới Agile (xanh) và Scrum (đỏ) không ngừng tăng trong suốt một thập kỉ (Theo Google Trends)

Agile là một cách gọi vắn tắt tất cả những phương pháp làm việc, quản lí và phát triển sản phẩm dựa trên những nguyên lí được mô tả trong Tuyên ngôn Phát triển phần mềm Linh hoạt (Manifestor for Agile Software Development, còn gọi tắt là Tuyên ngôn Agile) ra đời năm 2001 với bốn giá trị cốt lõi: Cá nhân và tương tác hơn là quy trình và công cụ; sản phẩm dùng tốt hơn là tài liệu hóa đầy đủ; Cộng tác với khách hàng hơn là đàm phán hợp đồng; Phản hồi với thay đổi hơn là tuân thủ cứng nhắc kế hoạch ban đầu. Những nguyên lí này không có mục đích gì hơn là định nghĩa một “văn hóa” làm việc mới, với sự ưu tiên cho cộng tác, làm việc nhóm hiệu quả, hướng-giá-trị, để tạo lập và duy trì sự linh hoạt (Agility) cho mỗi tổ chức nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững trong nền kinh tế sáng tạo thế kỉ 21.

Trong khi Tuyên ngôn Agile đề ra những nguyên tắc nòng cốt, thì các Phương pháp Agile lại hết sức đa dạng và linh hoạt, cũng nhằm thích ứng tốt với nhiều loại hình sản phẩm, công việc khác nhau. Chúng được biết đến với những cái tên khác nhau như Scrum, XP, LSD (Lean Software Development), Kanban, …, nhưng đặc điểm chung có thể kể đến:

  1. Tổ chức công việc thành các phân đoạn ngắn lặp đi lặp lại (short iterations) nhằm sớm nhìn ra kết quả các phản hồi từ người dùng cuối;
  2. Mỗi phân đoạn có mục tiêu rõ ràng trước khi bắt đầu công việc;
  3. Lấy khách hàng làm trung tâm, nhóm cộng tác chặt chẽ với khách hàng, thay vì chỉ tập trung báo cáo cho cấp trên;
  4. Trao quyền mạnh cho người làm việc trực tiếp;
  5. Nhóm tự lập kế hoạch, tự tổ chức cách thức hoàn thành công việc thay vì chỉ thụ động nhận việc từ cấp trên;
  6. Việc lập kế hoạch và thực thi do nhóm chủ động thực hiện, thích ứng với những thay đổi trong quá trình làm việc;
  7. Nhóm tự đo đạc hiệu suất của mình, đề ra các phương án cải tiến liên tục nhằm gia tăng năng suất và hiệu quả;
  8. Các vai trò quản lí hoạt động với tinh thần “phục vụ”, trong đó nhiệm vụ “tháo gỡ khó khăn” đặc biệt quan trọng;
  9. Các rào cản, vấn đề ảnh hưởng đến công việc chung được xử lí một cách hệ thống thông qua sự tổ chức thông tin minh bạch, liên tục thanh tra và cập nhật thông tin, thích ứng kịp thời, và thiết lập thói quen cải tiến liên tục.

Microsoft lấy Scrum, một phương pháp Agile phổ biến nhất hiện nay, làm khuôn khổ chủ đạo để hiện thực hóa kế hoạch chuyển đổi sang Agile từ cách thức làm việc truyền thống. Kể từ dự án thí điểm Agile đầu tiên năm 2008 trong đội sản phẩm Visual Studio Online, Microsoft đã phải mất hơn 3 năm để đi đến quyết định chiến lược chuyển đổi toàn bộ sang Agile. Cho tới ngày nay, gã khổng lồ Microsoft vẫn là nhà sản xuất phần mềm lớn nhất thế giới, nhưng lại có năng lực cho ra được những phiên bản ứng dụng mới trên Apple Store nhanh như những startup tí hon mới thành lập. Đối với nhiều người, đây là điều không thể tin được.

Câu chuyện của Microsoft chỉ là một điểm nhấn trong toàn bộ lịch sử chuyển hóa cách thức làm việc mà Agile đã tác động tới thế giới công nghệ – một trong các lực lượng chính thúc đẩy sự chuyển mình mạnh mẽ của thế giới ngày nay. Nếu như trước thời điểm của Tuyên ngôn Agile (2001), là thời kì “khủng hoảng phương pháp” khi có đến quá 2/3 dự án IT thất bại toàn phần  hoặc một phần, đến cuối thập kỉ 2010 mới có chừng 1/3 dự án sử dụng Agile (theo nghiên cứu của Forrester Research), thì đến năm 2014 đã có 94% các tổ chức được VersionOne khảo sát cho biết là đã phần nào đó sử dụng Agile trong công việc. Điều đáng quan tâm là các công ty được khảo sát đang hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ sản xuất phần mềm, thương mại điện tử, sản xuất phần cứng, cho đến các công ty dịch vụ vốn không có dính dáng gì đến việc sản xuất phần mềm. Đó là một sự chuyển biến lớn lao!

Steve Denning, cựu giám đốc điều hành của ScrumAlliance, tác giả của “Radical Management” từng nhận định “Scrum là một khám phá vĩ đại trong lĩnh vực quản trị”, và người phát minh ra nó “xứng đáng nhận giải Nobel về quản trị, nếu thực là có giải thưởng danh giá này”. Thực tế là, Agile đã trở thành một trong số các kiến thức mà nhà quản trị phải biết để hoạt động tốt trong nền kinh tế sáng tạo, nó còn là một chuẩn thức (paradigm) của thời đại mới. Và thực tế sinh động đang chứng nghiệm sức sống mạnh mẽ của nó.

Tuy dòng chảy Agile trên thế giới rất mạnh mẽ, Việt Nam du nhập Agile tương đối muộn, nổi bật lên vào giai đoạn 2011 trở lại đây với sự ra đời của hai nhóm HanoiScrum ở Hà Nội và AgileForumVietnam ở Tp. Hồ Chí Minh (hợp nhất thành AgileVietnam từ cuối 2013) với các hoạt động đa dạng thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng Agile tại Việt Nam. Tuy vậy, các hoạt động vẫn phần nhiều dừng ở mức chia sẻ thông tin. Phần nhiều các doanh nghiệp hiện nay vẫn còn dè dặt với Agile do thiếu vắng nhân lực có chuyên môn, và lo sợ những áp lực do sự thay đổi mang lại. Mặc dù nhìn thấy rõ cơ hội mà Agile có thể mang lại, cũng như những bài học thành công từ hàng nghìn doanh nghiệp đi trước, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn chần chừ trong việc hiện đại hóa cách thức làm việc. Đây sẽ là rào cản tâm lí bắt buộc phải vượt qua nếu các doanh nghiệp muốn cất cánh trong nền kinh tế sáng tạo, sân chơi mà Agile đã góp phần thay đổi mạnh mẽ trong một thập kỉ rưỡi qua.

Tư duy thiết kế và sự nổi dậy của não phải

Mỗi chúng ta sở hữu một kilogram vật chất đặc biệt nằm trong hộp sọ. Cái bộ máy tự nhiên tối tân ấy cho đến nay vẫn là một thế giới đầy bí ẩn với hầu hết đại chúng, thậm chí với cả những nhà khoa học lừng danh. Cứ mỗi khi chúng ta “phát hiện” thêm một chút về nó, là khi chúng ta lại ồ lên, hoặc ngã ngửa ra vì bấy lâu nay có gì đó đã bị hiểu lầm nghiêm trọng. Một trong những lần như vậy là khi người ta “khám phá ” ra rằng chúng ta đã bỏ rơi phần bên phải của não bộ quá lâu.

Chúng ta đều biết não có hai nửa bán cầu khá là riêng biệt. Phần bên phải điều khiển các cơ quan bên trái, phần còn lại điều khiển các phần bên phải của cơ thể chúng ta. Nhưng chỉ mới gần đây thôi, chúng ta mới biết thêm rằng hai bán cầu não còn phân chia nhiệm vụ chức năng khác nhau khá là tường minh. Não trái chuyên trách phần “duy lý” gồm các hoạt động liên quan đến tư duy logic, phán đoán, kĩ năng ngôn ngữ, tính toán, viết lách. Còn não phải “chuyên trị” các thứ liên quan đến thẩm mĩ, sự khéo léo, năng lực đồng cảm, khả năng âm nhạc, nghệ thuật, tình cảm, lòng say mê và khả năng sáng tạo. Mặc dù có sự phân tách chuyên biệt như vậy, nhưng khi chúng ta hoạt động, hai nửa bán cầu có liên kết chặt chẽ với nhau thật nhịp nhàng chứ không hoàn toàn tách biệt về chức năng.

Continue reading “Tư duy thiết kế và sự nổi dậy của não phải”

Khi nào Agile, khi nào không?

Làn sóng Agile đã càn lướt xong giới phát triển phần mềm, và bắt đầu chiếm lĩnh những diễn đàn vốn dành riêng cho giới quản lí như Harvard Business Review (HBR) hay Forbes. Tất nhiên, người ta đều biết là Agile có chỗ đứng vững chắc trong nhiều lĩnh vực, từ ngành phần mềm, phần cứng, ngành sản xuất ô tô, ngành ngân hàng, ngành hàng không, ngành marketing hay giáo dục. Nhưng câu hỏi đơn giản này luôn làm phiền những sếp quy trình, những COO, CIO hay cả những CEO cấp tiến: “Agile có phù hợp với công ty của mình hay không?”.

Những người có kinh nghiệm thấy ngay rằng không thể trả lời nhanh câu hỏi này. Nhưng chúng ta luôn có những manh mối để suy nghĩ và bắt đầu.
Continue reading “Khi nào Agile, khi nào không?”